Vui chơi hết ngày tháng

Thức uống của quỷ (2.5): MỘT MÙA ĐỊA NGỤC

Sau khi bị lính biên giới đuổi khỏi Jiga-Jiga, tác giả đã tìm ra một nơi khác có thể cho anh nhai thử lá qat và uống kati. Đó là một thứ thức uống mê ly gây ra những cơn vật vờ chất ngất.

——-

>> Thức uống của quỷ (1): Ly cafe đầu tiên
>> Thức uống của quỷ (2.1): MỘT MÙA ĐỊA NGỤC
>> Thức uống của quỷ (2.2): MỘT MÙA ĐỊA NGỤC
>> Thức uống của quỷ (2.3): MỘT MÙA ĐỊA NGỤC
>> Thức uống của quỷ (2.4): MỘT MÙA ĐỊA NGỤC

“THỦ TƯỚNG ĐỨC SẼ ĐẾN THĂM JIGA-JIGA”- Abera nói khi tôi kể cho cậu nghe chuyện gì đã xảy ra. “Vì thế họ đuổi anh khỏi chỗ ấy!”

Nhưng cậu bé đã có tin vui cho tôi. Cậu kể về hành trình của tôi cho cô bạn gái nghe. Hóa ra là cô bạn cùng nhà của em gái ấy biết cách pha kati, và cô đã mời tôi đến uống một cốc.

Thực ra, có đến hai loại thức uống làm từ lá cafe. Loại thứ nhất, khá phổ biến, là kati hay còn gọi là kotea, một hỗn hợp làm từ những lá cafe đã rang. Loại thứ hai được gọi là amertassa, một kiểu thức uống ra đời sớm hơn loại kia, làm từ những lá cafe được hái khi còn tươi và phơi trong bóng râm trong vài ngày đến khi khô, rồi đem pha nước uống mà không rang qua. Bà tiểu thương bán đồ cho chúng tôi ở chợ vẫn còn nhớ bà nội của bà uống amertassa. Giờ thì thứ thức uống ấy gần như tuyệt chủng rồi. Tuy nhiên, bà vẫn còn một bao tải đầy kati, những chiếc lá rộng với đốm màu cam và xanh lá.

Kati - một sản phẩm của Starbucks với một "dấu ấn" châu Phi với Arabica.

Kati – một sản phẩm của Starbucks với một “dấu ấn” châu Phi với Arabica.

Kati và amertassa là những thức uống có thể được cho là tiền thân đầu tiên của một tách cafe, vì người Ethiopia đã ăn những hạt cafe từ thời xưa lắm rồi. Tách cafe đầu tiên được nhắc đến chính là thứ thức uống được pha từ lá cây. Kafta là tên Ả Rập của món uống này. Một vài học giả cho rằng ly cafe đầu tiên được pha bằng lá của cây thuốc phiện qat, nhưng đầu thập niên 1400, người Ả Rập bí ẩn al-Dhabhani[1] đã nhìn thấy những người Ethiopia sử dụng qahwa, một tài liệu rõ ràng cho thấy có sự hiện diện của cafe ở thể lỏng. Vậy người Ethiopia thời đó đã uống gì? Khá giống với thứ nước được pha từ lá cafe: Trà cho người âm phủ uống trong thần thoại. Hạt cafe sống Mocha sau này được thêm vào ở miền nam Yemen bởi giáo chủ Hồi Giáo mật tông huyền bí al-Shadhili hoặc những môn đệ[2] của ông.

Dù chuyện xưa có ra sao thì kati vẫn là món thức uống dễ thương. Cách chuẩn bị khá đơn giản: lá khô được rang trên  một chiếc chảo phẳng cho đến khi chúng sậm màu lại, có vân nâu nổi lên, sau đó được bóp vụn ra và pha trên hơi nóng với nước, đường và một nhúm xíu muối. Hỗn hợp được nấu trong khoảng 10 phút. Chất lỏng được cho ra có màu vàng và vị caramel rất tinh tế; hơi có mùi khói so với món trà đen của Trung Quốc nhưng vị phức tạp hơn, vừa ngọt vừa hơi mặn, với một chút vị dính đầy khoái lạc khi trôi vào miệng người uống.

Nhai lá qat ở Ethiopia

Nhai lá qat ở Ethiopia

Nó chứng minh một mối liên hệ đầy cảm xúc với lá qat mà Abera đã mang theo cho chúng tôi cùng nhai. Qat là loại lá chị em từ địa ngục có liên hệ với cafe và đã gây nghiện cho rất nhiều người ở miền nam Arabia và Đông Phi (món này sau đó cũng lan sang phương Tây). Lịch sử của hai loại chất gây nghiện này đan xen với nhau suốt một hành trình dài dưới cùng một cái tên dành cho vị thánh của dân mê cafe, al-Shadhili of Mocha, là “Cha đẻ của hai loại cây”, qat và cafe. Qat là loại lá được nhai sống và ngậm trong miệng cho đến khi nước từ lá tiết ra. Tôi đã thử loại lá này lần đầu nhiều năm trước ở Kenya và không thấy ấn tượng gì mấy, nhưng loại lá mà Abera mang đến ngày hôm đó gây hưng phấn như điện giật, y hệt như mấy viên Ecstasy loại nhẹ. Tuy nhiên, Ecstasy sinh ra cơn hưng phấn đỉnh cao trong cảm xúc và thân thể, trong khi những lá qat loại tốt nhất được trồng ở Harrar lại đem đến cơn hưng phấn đỉnh điểm trong não, đẩy người nhai lá vào trạng thái mê man đến mức khiến cuộc nói chuyện như rơi vào một cơn mê mẩn không dứt ra được[3].

EthiopiaDispatch6_Erbore-village-beauty-Omo-River-Valley

Chúng tôi uể oải nằm dài trên bậc thềm cao trong ngôi nhà truyền thống kiểu Harrar của cậu bé Abera. Bạn bè tiếp tục đến chơi. Họ nhai nhiều lá qat hơn nữa, pha thêm nước kati, và cả buổi chiều trôi qua trong khói lá qat mịt mù, say đắm, thong thả, như thể không điều gì ở đây có thể diễn tả rõ ràng và mạch lạc được nữa. Ngày quá nóng, nhưng ngôi nhà đất sét của Abera lại mát lịm với những chiếc gối êm mịn. Tụi tôi nói về Rod Steward, anh chàng ca sĩ có kiểu tóc làm Abera mê mẩn. Sau đó, đến lúc ngồi nhai lá qat trong phần tiếp theo được gọi là “Giờ Solomon”, chúng tôi nói chuyện như ở trong một cơn mê muội huyền diệu. Tôi nói về một người trợ giáo Thiên Chúa là người Ethiopia đã kết tội dân Hồi giáo xài cafe để ám lời nguyền lên kẻ khác. Abera chưa bao giờ nghe kể chuyện này. Nhưng cậu bé nói, ở Harrar này, vài người dùng cafe để tạo ra những sự hàn gắn[4] tổn thương màu nhiệm.

“Người ta đi hàng nghìn dặm đến Harrar để được chữa lành.” – Cậu bé kể

“Cậu có bao giờ thấy nghi thức đó chưa?” – Tôi hỏi.

“Một lần.” – Cậu gật đầu. “Tôi không lật tẩy được trò của những người đó.”

“Kể lại xem chuyện gì xảy ra?” – Tôi đề nghị. “Cậu đã thấy Zar[5] chưa?

“Anh biết về Zar à?”

“Cha đạo ở Addis kể tôi nghe. Nó là linh hồn quỷ dữ, đúng không?”

“Không, không hẳn thế. Nó là thứ đi đến với sheykah” Cậu ta đã hỏi một người bạn, đang làm việc cho UN tại đây nhưng không nói tiếng Anh. “Có, bạn tôi nói Zar sẽ đi đến với sheykah. Linh hồn đó biết tất cả mọi người.”

Hóa ra một sheykah(*) đã được chào đón trở lại Harrar sau khi hoàn thành khóa huấn luyện đặc biệt trong bốn năm ở Hồ thiêng Wolla của Ethiopia. Người ấy giờ tổ chức lễ ở Harrar mỗi thứ Ba và Thứ Năm. Hôm nay là Thứ Ba.

“Bạn cậu quen những người hành lễ đó à?” – Tôi hỏi.

“Vâng, có quen vài người.”

Tôi ngần ngừ hỏi: “Thế một người nước ngoài có thể đến dự một buổi chữa trị được không?”

“Anh muốn đi á?” – Abera tỏ ra rất ngạc nhiên. “Tôi không biết nữa…” – Cậu bé hỏi lại người bạn kia. “Bạn ấy nói không biết có được không. Chẳng tay nước ngoài nào đến mấy cái lễ này cả. Nhưng bạn ấy sẽ hỏi cho anh.”

Sau đó chúng tôi mất cả buổi chiều để đi tìm sheykah, cuối cùng thì biết vị sheykah vẫn đang ngủ. Hôm nay là ngày nghỉ, người đồng đạo của anh ta nói; tốt nhất là quay lại sau đi. Nhớ mang theo quà.

“Quà hả?” – Tôi hỏi lại.

“Vâng, bình thường thôi mà. Đó là cách thể hiện sự tôn trọng.”

Chúng tôi đã chia nhau ra, Abera sẽ đi một mình để mua “sự tôn trọng” trong lúc đó tôi quay về khách sạn. Tụi tôi sẽ gặp nhau vào buổi tối. Nhưng trong lúc đó, tôi đã đưa cậu bé một ít tiền để mua quà. Tôi tự hỏi đây không biết có phải là trò lừa đảo dễ ra tiền hay không.

“Cậu định mua quà gì cho bọn họ vậy?” – tôi hỏi khi đưa tiền cho Abera.

“Hạt cafe xanh.” – Cậu đáp – “Đó là món quà anh nên tặng. Hai kg là đủ rồi. Đừng tặng họ gì khác. Anh chỉ đến xem thôi mà, có chữa trị gì đâu.”

Stewart Lee Allen

Khải Đơn dịch


[1] Một trong những tác giả sớm nhất viết về cafe là Abd al-Qadir al-Jaziri, năm 1587 đã sưu tập những tài liệu tìm về lịch sử và  tranh luận về sự hợp pháp của cafe có tên gọi Umdat al safwa fi hill al-qahwa. Ông tường thuật lại rằng, một lãnh chúa, tên Jamal-al-Din al-Dhabhani (mất năm 1470), giáo sĩ của Aden, là người đầu tiên cho phép cafe được đưa vào sử dụng. (khoảng năm 1454)

[2] (Chú thích của tác giả): Có một thuyết cho rằng cafe thực ra là hệ quả từ lần đô đốc hải quân người Hoa Trịnh Hồ đem trà đến giới thiệu với người Ả Rập trong những năm đầu thập niên 1400. Khi người Trung Hoa cắt liên lạc với thế giới bên ngoài, những người Ả Rập đã thay lá trà khó trồng được ở Ả Rập bằng lá qat hay còn gọi là cafe.

[3] (Chú thích của tác giả): Giống với lá trà , dân Myanmar ở một số vùng cũng nhai loại lá trà được ngâm trong nước muối.

[4] (Từ Tác giả): Ethiopia là một quốc gia truyền thống Thiên Chúa Giáo, trong khi đó cafe lại có liên quan chặt chẽ với người Hồi Giáo Isla, một mối quan hệ trong quá khứ đã dẫn đến chuyện cafe bị cấm trong cộng đồng người theo Thiên Chúa ở Ethiopia.

[5] Zar (hoặc Zaar): một tình tiết trong tôn giáo, xuất phát từ Ethiopia thế kỷ 18, là từ để chỉ một phụ nữ bị ám, nhập bởi một linh hồn, kiểu như nhập vong ở VN.

(*) Chỗ này vì chả biết dịch làm sao nên để đại như vậy. Sau khi đọc 1 hồi thì nghĩ chắc đó là 1 ông thầy cúng😀 haha

Tagged as: , ,

1 Response »

Trackbacks

  1. CHƯƠNG 3: Những lời khấn nguyện của người Ethiopia | Khải Đơn

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: