Vui chơi hết ngày tháng

Istanbul (Orhan Pamuk): Hồi ức của một thành phố và sự bực mình với Nhã Nam

“Tôi nghĩ tôi sẽ viết “Hồi ức và Thành Phố” trong sáu tháng, nhưng lại mất đến một năm để hoàn thành nó. Và tôi đã làm việc 12 tiếng mỗi ngày, chỉ đọc và làm việc. Cuộc đời của tôi, vì rất nhiều nguyên do, đang ở trong cơn khủng hoảng. Tôi không muốn đi sâu vào từng chi tiết: ly hôn, cha tôi chết, vấn đề chuyên môn, rắc rối chỗ này, rắc rối chỗ kia, mọi thứ đều tệ. Tôi nghĩ nếu lúc đó tôi yếu đuối, có lẽ tôi đã rơi vào trầm cảm. Nhưng mỗi ngày tôi đều dậy và tắm nước lạnh và ngồi xuống và nhớ lại và viết, tôi luôn chú ý đến vẻ đẹp của cuốn sách. Thành thực mà nói, có lẽ tôi đã làm tổn thương mẹ tôi, gia đình tôi. Cha tôi đã chết, nhưng mẹ tôi còn sống. Nhưng tôi không thể quan tâm đến điều đó, tôi phải quan tâm đến vẻ đẹp của cuốn sách.”

Orhan Pamuk đã trả lời với tờ Wild River Review như vậy khi nói về khoảng thời gian ông viết quyển “Istanbul: Hồi ức và Thành Phố” – một quyển kí dày, 37 chương, về thành phố của ông.

Orhan Pamuk viết lại tất cả những gì của chính ông, từ năm ông ra đời (1952), với những gì ông nhìn thấy, sự thay đổi xung quanh, người ông gặp, cuộc trò chuyện với mẹ, sự yên lặng của bà hay những bữa tiệc buồn tẻ nào đó.

Ở giữa các chương viết, Orhan Pamuk phác thảo lại toàn bộ Istanbul của ông, từ hàng trăm năm trước, qua tay các nhà thơ, nhà báo, qua tay những người bán hàng, qua vịnh Bosphorus, từ những tiểu tiết trên tranh vẽ. “Istanbul” chứa tư liệu đầy ắp, so sánh liên tục, các ý tưởng sắp xếp cực kì ngăn nắp, chú thích rạch ròi trong từng đoạn viết.

Orhan viết về vịnh Bosphorus của ông, một vịnh biển khi nhìn ra có thể thấy những dinh thự bằng gỗ đẹp tuyệt vời, nơi xưa kia là chốn ngự của những pasha quyền lực cai quản thành phố. Các toà nhà ấy cũ dần đi, mủn đi, trong kí ức có cả những người hàng rong lái thuyền đi bán trái cây, các món đồ thú vị… và Bosphorus nơi người ta đang phá dần đi và xây nên những toà nhà mới kiểu Tây, hào nhoáng, lấp lánh. Orhan lúc ấy chỉ còn là một đứa bé, nhớ rằng bác sĩ dặn mẹ hãy đưa mình ra vịnh để thở khí trong lành và khỏi bệnh. Sau tất cả những khắc hoạ chi tiết, tư liệu lịch sử, ông viết rằng: “… có một chuyện chẳng hề thay đổi: chỗ mà Bosphorus chiếm ngự ở trong trái tim cộng đồng của chúng tôi. Như khi còn nhỏ, chúng tôi vẫn coi nó như là một sự đảm bảo cho sức khoẻ tốt lành, một thứ linh dược khi lâm bịnh, một suối nguồn vô tận của điều tốt điều thiện, những gì gìn giữ thành phố và các cư dân của nó.”

Trong suốt quyển sách, người đọc có thể tìm thấy Orhan tả vịnh Bosphorus, tả giáo đường Suleymaniye, tả ngoại ô Istanbul, tả bến cảng với thuyền đi qua ban đêm, tả những ngôi nhà yah đẹp huy hoàng một thời, những ngõ hẻm, trời tối… và khi đọc, người ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh như thể ta đứng đó, với cảm giác của ông, với các chi tiết rõ ràng, mạch lạc, với cả mùi hơi nước, mùi khói, hay khí lạnh…

Bên cạnh các chương kể về thành phố, Orhan Pamuk viết về những người đã biến Istanbul thành một vẻ đẹp có lịch sử, bằng tranh vẽ, thơ ca, văn học hay các bài báo. Có rất nhiều phần trong sách, Orhan nói lên nỗi khốn khổ của những nhà nghệ sĩ này. Họ ở một thành phố kì quặc, có một nửa Tây hẳn và một nửa mang đầy khí chất phương Đông. Orhan tả lại nỗi khổ sở của nhà thơ Yayah Kemal, nhà văn Abdulhak Sinasi Hisar, nhà văn Ahmet Hamdi Tanpinar, nhà sử học Resat Ekrem Kocu khi họ phải chọn cho mình một phong cách sáng tác.

Họ học cái hay của các nhà thơ, nhà văn Pháp, họ thử viết, họ thấy không hợp với cái mùi phương Đông của Istanbul, rồi họ chọn cho mình một thứ: nỗi buồn của Istanbul và cứ thế xoáy sâu vào nó và được lưu danh vì những gì họ giữ lại cho thành phố này sau hàng chục năm phôi pha và biến đổi. Ông cũng nói về nỗi đau khổ của họ, những người bị nền Cộng Hoà kiểm duyệt gọi tên là “phản động” rồi kết thúc cuộc đời trong bi kịch: “… cả bốn ông nhà văn này buồn bã này sống và chết, một mình, chẳng bao giờ lấy vợ. Ngoại trừ Yayah Kemal, ba ông kia chết mà không thực hiện được giấc mơ của họ. Không chỉ là chuyện họ để lại đằng sau những tác phẩm chưa hoàn tất, mà ngay cả những cuốn sách được xuất bản khi họ còn sống cũng chẳng bao giờ với tới được các độc giả mà những nhà văn này tìm kiếm. Riêng Yayah Kemal, nhà thơ lớn lao nhất và ảnh hưởng nhiều nhất của thành phố Istanbul, suốt cuộc đời, ông từ chối cho xuất bản bất cứ tác phẩm nào của ông.”

Dường như bóng ma kiểm duyệt của nền Cộng Hoà đã xâm lấn và huỷ hoại rất nhiều nghệ sĩ yêu thành phố này. Nhưng ở chương 15, Orhan lại nói về Ahmet Rasim, một người giữ chuyên mục báo đã viết về Istanbul bằng một thái độ vui vẻ, bình thản, trước sự kiểm duyệt tàn nhẫn đến đau lòng của nền chính trị. Ahmet Rasim dành 50 năm để viết về những gì xảy ra ở Istanbul, từ những tay nghiện rượu, đến dân bán hàng rong, khu phố nghèo, cửa hàng tạp hoá, phiên chợ, các món hàng… Ahmet Rasim từng nói: “Nếu những cấm đoán chính trị và sự thiển cận khiến bạn không tìm ra thứ gì để nói, hãy nói về hội đồng thành phố và cuộc sống ở thành phố, bởi vì mọi người luôn thích đọc mấy thứ này.”

Orhan đã dành rất nhiều bài viết để ca ngợi những con người lao động miệt mài, bình tĩnh, người vẽ tranh, người viết từ điển, nhà thơ, nhà báo… đã kiên trì và bình tĩnh sống để viết về Istanbul trong sự ngột ngạt và đau đớn của nó. Có người kháng cự, có người ẩn nấp, có người cự tuyệt, lại có người cười khẩy vào mặt nó… nhưng tất cả họ đều cặm cụi sáng tác, nghiên cứu, viết để giữ lại một Istanbul đang dần đổ lụi vì những toà dinh thự đã quá cũ kĩ, vì thành phố đang méo mó đi bởi những kẻ xây dựng nó một cách kì quái và thô bạo. Orhan viết những điều này trong một nỗi buồn trong suốt và xuyên qua cả trang viết.

“Chẳng làm gì có những tàn dư đế chế vĩ đại như vậy ở các đô thị Tây phương, được gìn giữ như viện bảo tàng lịch sử và được trưng bày một cách hãnh diện. Người dân của Istanbul cứ thế mà sống giữa những điêu tàn, hoang phế. Nhiều nhà văn, nhà du lịch Tây phương coi đây là một điều dễ thương vô cùng. Nhưng đối với những cư dân mẫn cảm, thân quen hơn, các tàn dư đế chế nhắc nhở họ rằng thành phố hiện nay quá nghèo, quá xô bồ, và thật vô phương nếu mơ ước sẽ có một ngày lại hiển hách như xưa, về những mặt giàu sang quyền uy và văn hoá. Thật khó mà tự hào về những căn nhà xiêu vẹo, đổ nát, bị bỏ bê, dơ dáy, bùn và bụi bám đầy, và thật đẹp làm sao, khi còn là một đứa nhỏ, những lần tôi đứng nhìn chúng bị lửa thiêu rụi từng chiếc một.”

hay: “Bởi vì hình ảnh mà người dân Istanbul ôm ấp trong mình về thành phố thân yêu trong thế kỷ đã qua là hình ảnh một đứa trẻ nghèo đói, bị thất trận, bị tủi nhục, và cái còn lại chỉ là điêu tàn. Khi tôi mười lăm tuổi, tập tành vẽ những bức hoạ đầu tiên của mình, nhất là khi vẽ những con phố nhỏ của thành phố, tôi cảm thấy xốn xang tự hỏi nỗi buồn của chúng tôi sẽ dẫn dắt chúng tôi tới mãi đâu.” 

 

Một phần khác được Orhan viết là những chuyện riêng của ông. Ông viết về cha mẹ mình, bà nội, cô chú, ngôi nhà yah sang trọng của dòng họ quý tộc nhà ông (đã hết thời) giờ chỉ là những cái hốc được ngăn ra cho cả dòng họ đu bám vào – gọi là nhà ổ chuột. Ở đó Orhan thấy cha mẹ cãi nhau, cha đi với mấy cô bồ, thấy bà nội ôm ấp mình, thấy cả cái tuổi dậy thì kì quặc của mình nảy mầm trong cơ thể. Ông mô tả những tính cách và suy nghĩ của người xung quanh ông.

Người giàu Istanbul làm gì trong những buổi tiệc trà, khi có một đống tiền? – Họ đi mua nhà kiểu Tây, bất chấp căn nhà đó có vẻ vô cùng bất tiện và họ chẳng thích. Những chàng trai trẻ như Orhan làm gì? – Họ chạy như điên đầy phấn khích ra khỏi nhà mỗi khi có một dinh thự bùng lên trong ngọn lửa hay khi những chiếc tàu hàng khổng lồ đâm nhau ngoài vịnh Bosphorus và bốc cháy ra tro. Cảm xúc ấy được ông miêu tả:“Nhưng với những người trong số chúng tôi, đã từng nhìn thấy các yah cuối cùng của thành phố, những biệt thự, những khu nhà gỗ bị thiêu rụi vào thập niên 1950 và 1960, nỗi thích thú của chúng tôi có được bắt nguồn từ một trạng thái tinh thần khác hẳn các pasha thời kì Ottoman, những người thuần tuý thưởng thức cảnh tượng; niềm thích thú của chúng tôi còn bao gồm cảm giác tội lỗi, mất mát và ghen tức, trước sự huỷ diệt bất thình lình những dấu vết cuối cùng của một nền văn hoá lớn và một nền văn minh lớn mà chúng tôi không xứng hợp hay chưa được sửa soạn để mà thừa hưởng, trong khi chúng tôi điên cuồng biến Istanbul thành một thành phố hạng hai bắt chước một đô thị Tây phương nhợt nhạt, nghèo đói.”

 

Đọc Istanbul, từng chương một, tôi lại càng cảm thấy ông đã miêu tả một thứ gì đó gần với Sài Gòn đến lạ lùng. Mỗi lần dừng chân đâu đó trước những căn nhà kiểu Đông Dương cổ đầy bụi lem luốc, hay sững sờ trước một nhà thờ xưa đã tô thêm màu mới, tôi lại nhớ đến cách Orhan tả từng cái hẻm quanh co và hai ngôi nhà ở góc phố tựa vào nhau. Cứ nghĩ đến cách Ahmet Rasim đã “thoát” khỏi sự kiểm duyệt của chính trị, tôi cảm thấy rõ ràng đó là một sự tương đồng trong không khí với thành phố nhỏ xíu này của mình. Có một nỗi buồn bé xíu dâng lên mỗi khi tôi ra bến phà Thủ Thiêm cũ, nhìn hoàng hôn rơi, và tưởng tượng về cậu bé Orhan Pamuk đang theo mẹ ra Bosphorus trong một buổi chiều nhẹ. Chỉ có ở đấy chứa đựng một khối không khí trong lành.

Istanbul là một quyển kí dễ đọc, ngắn, và bạn có thể nhấm nháp nó suốt nhiều tháng. Tôi đã không ngồi đó đọc hết một lượt, mà đọc từng chương. Cứ đọc tiếp thì lại tiếc là quyển sách sắp hết. Đây là quyển kí đẹp nhất mà tôi tìm được trong 3 tháng rồi. Nếu thích viết hay đọc du kí hoặc về thành phố, đây là một quyển đáng tiền để bạn đọc!

Về bản dịch của Nhã Nam

Dù tôi đã trích dẫn hầu hết các đoạn trong bài viết này từ bản dịch của Nhã Nam thì tôi vẫn khuyên bạn không nên phí tiền để mua quyển sách này từ Nhã Nam.

Thật buồn, khi tôi mua bản dịch tiếng Anh trên Amazon vì phát hiện quá nhiều đoạn trong sách được dịch với một văn phong kì quặc, chấm phẩy lộn xộn, các phụ từ lẫn lộn, nhiều câu có nghĩa nhưng lại … lạ lùng, tôi đã phát hiện ra đây là một bản dịch cực kì cẩu thả của Nhã Nam.

Bản dịch này giống hệt như tôi – một kẻ không biết dịch – trong lúc rảnh rỗi, lấy từ điển/google ra tra, xong ghép vần lại cho xuôi miệng, thế là thành bản dịch.

Ở chương 15, về Ahmet Rasim, đoạn “but because he was careful to keep his melancholy in check” đã được dịch thành “nhưng bởi vì rất cẩn trọng trong việc kiểm tra nỗi buồn của mình”.

Hoặc trong chương 14, về các biển hiệu “When I was told to kiss my mother’s ahdn my grandmother’s hands but never anyone else’s, I would remember the words on anchovy tins: “PREPARED WITHOUT BEING TOUCHED BY A SINGLE HAND”; “DONT PICK THE FLOWERS” or “DON’T TOUCH”- both these signs echoed my mother’s own commands instilled in the streets, and there may have been a connection betweek these injunctions and her prohibition against pointing.

 

=> Đã được dịch là “Khi tôi được căn dặn, chỉ được hôn tay mẹ và bà, mà không được hôn tay bất cứ một người nào khác, tôi bỗng nhớ tới những dòng chữ viết trên những hộp cá chổng: ĐƯỢC SỬA SOẠN, VÔ HỘP MÀ KHÔNG CÓ BẤT KỲ BÀN TAY NÀO CHẠM TỚI”. Ngoài ra còn một mối liên hệ giữa cái lệnh cấm đoán được nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần của mẽ tôi, không được lấy tay chỉ trỏ những dòng chữ: CẤM NGẮT HOA hay CẤM SỜ – cả hai dòng này ở trên đường phố đều làm dội lên ở trong tôi những lời căn dặn của mẹ, và rất có thể là có mối liên hệ giữa các dòng chữ kia với lệnh cấm chỉ trỏ lung tung của bà.”

Các phụ từ được đặt lung tung, lủng củng, và cái đoạn ở giữa ba cái biển hiệu viết hoa thì không biết dịch giả đã đào đâu ra. Đôi chỗ, bạn có thể cảm thấy như đang đọc một bài bùa chú vậy, phụ từ lung tung, và, thì, là mà, những… lặp đi lặp lại liên tục. Tôi thì chẳng phải dịch giả hay có chuyên môn gì để phán xét ai đúng sai, chỉ là cảm giác đọc vô cùng khó chịu, nó giống như khi mình mua phải một cái hộp nhựa dỏm rẻ tiền ngoài chợ vậy.

Nếu bạn tìm một thứ dễ đọc hơn một chút, thì có thể đọc quyển này từ Amazon: http://www.amazon.com/Istanbul-Vintage-International-Orhan-Pamuk-ebook/dp/B000MAHBZ0/ref=sr_1_1?s=digital-text&ie=UTF8&qid=1392583617&sr=1-1&keywords=Istanbul

Tui đã mua nó, nhưng rất tiếc là chả có sao chép được gì ráo để mà upload lên lại đâu đó cho bạn.

Khải Đơn

=================

 

Orhan Pamuk là nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ, đạt giải Nobel Văn Học năm 2006. Ông là nhà văn, học giả, giáo sư văn học tại Mỹ. Phần lớn thời gian trong đời ông gắn bó với thành phố Istanbul. Ông có một số tác phẩm khác đã được dịch ra tiếng Việt như “Tên tôi là Đỏ”, “Tuyết”, “Pháo đài trắng”

Ngay sau khi ông đoạt Nobel, tác phẩm của ông đã bán được 200.000 bản, đưa ông trở thành tác giả bán chạy nhất trong lịch sử giải Nobel. 

=================

Lại 2 giây cho quảng cáo:

Em trở lại làm phận gái bán cà phê, cà phê Du Mục ngon thơm và sạch sẽ, mời bạn chọn mua và em sẽ phục vụ tận nơi… hehe: https://www.facebook.com/media/set/?set=a.209137829293589.1073741828.197962500411122&type=1

Tagged as:

2 phản hồi »

  1. Nếu chị thấy chán thì có thể cho lại em. :3 Em tìm mãi mà ko có mua được ạ

    Like

  2. Những đoạn sau chị trích dẫn thấy có chút kỳ dị thật, nhưng hầu hết cho đến chương 4 em đang đọc và đúng là em đọc rất chậm, thì em cực thích cái lối cẩu thả tùy tiện lủng củng của dịch giả. Có thể, cũng có thể dịch giả đã giết chết cuốn sách với văn phong của mình, nhưng biết làm sao, cái kiểu ngắt câu chấm phẩy chẳng có trong cuốn sách dạy ngữ pháp nào ấy, lại tuyệt đỉnh dí dủm và gợi mở. Ngoài ra, như chị nói thấy đâu đó Sài Gòn, em thấy giống miền Bắc hơn, hoặc Đà Lạt, với những ánh đèn vàng nhìn vào, và ăn cơm tối, đại khái thế. Nhưng cũng chẳng sao, mọi sự nằm ở quan điểm và kiến thức của mỗi người.
    Và, đi đâu cũng gặp em già ở trên.

    Like

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: