Đường Rừng Phản Bội

Truyện ngắn của Khải Đơn

Xe bus dừng ở đường vào làng khi mặt trời chùng xuống. “Từ cổng làng có treo con rối bằng gỗ, cô đi thẳng vào 2km là đến nơi,” tôi ướm tin nhắn của chủ nhà trọ lên cánh cổng làng với nhân vật đang cười lơ lửng trên cao. Con rối làm bằng gỗ, đốt lửa khò tạo thành hoa văn từ cháy xem đến nâu đậm. Cơ nối bằng dây gai. Nó bám lấy cây cột bằng gỗ cổ thụ gác qua làm thành cổng làng. Con rối cụt một tay. Môi dày và khóe miệng nhếch cười.

“Một tay như vậy bám trên cây cột chắc mệt mỏi lắm,” ý nghĩ trong đầu tôi bày trò khi thả bộ trên đường vào làng. Sương mù đáp xuống từ không trung như tấm chăn dày, che đậy ánh sáng yếu ớt cuối cùng của ngày. Ngôi làng trong ảnh chụp bốn chục năm trước không giống với khung cảnh trong tầm mắt.

“Đầu làng có hàng cây trắc kéo dài gần cây số, như dãy cổ chân người khổng lồ. Ông nội thường chơi trốn tìm với trẻ con trong xóm ở đó.” Tiếng của người đàn ông trong bệnh viện thều thào vọng trong tai tôi. Con đường nhìn nhằm chằm xuống dẻo đồi lấm tấm cỏ xanh. Nhưng không có người khổng lồ nào cả.

“Mẹ tôi sợ nghe tiếng gấu dậm chân. Lúc đó chỉ nằm ôm nhau cầu cho ông gấu đừng mở cửa,” Người đàn ông tiếp tục lầm rầm kể. Thái dương tôi lạnh buốt. Tự dưng tôi nuốt nước bọt rất khẽ. Nếu gấu xuất hiện thì sao? Tôi chỉ có một thân một mình. Người ta bảo nếu gặp gấu thì hãy đội thứ gì đó lên đầu làm mình cao thêm, hoặc trèo lên tảng đá lớn. Gấu thấy mình cao hơn sẽ sợ bỏ đi. Quanh đây không có tảng đá nào. Đường xuống dốc càng lúc càng sâu. Khí trời đặc đen dần. Nếu tôi đứng ở đỉnh dốc có thể tôi sẽ cao hơn gấu. Nhưng có phải con người đơn giản hóa tâm trí gấu không, làm gì mà gấu phải sợ kẻ cao hơn? – Nghĩ tới đó, tôi định sẽ để balo lên đầu để cao hơn một chút. Màu đen của bầu trời toác miệng cười.

“Bà nội nói làng sẽ bị trừng phạt. Rồi bà đi mất. Tôi đứng chờ bà quay về mỗi ngày suốt mùa hè, nhưng mặt trời ngoạm mất xương của bà và tha đi chân trời khác,” – Bà nội của ông còng như chiếc lưng của đồi cao trong buổi chiều chạng vạng. Bà ôm chầm lấy cháu của bà và nói thầm, con hãy chạy đi thật xa để thoát khỏi cơn giận của rừng. Đứa bé ngước nhìn con đường mòn rẽ sâu vào thác. Những người lực lưỡng nắm cổ áo bà giật cháu khỏi tay bà. Đàn ông đàn bà trong làng hò hét đẩy bà đi sâu vào rừng tối. Cha của ông ném hòn đá vào ngực bà nội và cầm đuốc dậm chân đuổi mẹ đẻ đi. Đứa bé khóc ré thành tiếng kim loại máy xúc xé vào thân gỗ trắc, cào ra lõi gỗ đỏ hỏn như tim rừng ngừng đập.

“Đứa bé” ấy nằm trước mặt tôi hơn 40 năm sau, ho rũ rượi, đàm lỏng sôi đùng đục trong lồng ngực. Nước mắt chảy xuôi dòng xuống gối, khăn giấy không chậm lại được. Nữ y tá bảo tuyến lệ trong mắt ông không đóng bao giờ, nó là sự ức buồn nhiều chục năm gói ghém thành một con đập chắn ngang trong mắt, khiến ông khóc ngay cả trong nhiều ngày hôn mê. Ông trả tôi 5 ngàn đô, yêu cầu tôi đi tìm ngôi làng đã mất của ông, không có cứ liệu gì ngoài một bức ảnh mờ nhàu nhĩ.

Ông đưa tôi chiếc máy ảnh, bảo hãy chụp ảnh bằng máy đó – để ông được thấy như trở về quê xưa. Mắt ông nhìn trần nhà. Còn tôi lén lút nhìn những vệt chất lỏng loang ra, dính da thịt ông với chiếc áo vải cotton xanh. Lúc đó y tá của ông nói cô cần phải rửa vết thương. Tôi chào ra về.

Ông nói với theo, ông không cam tâm chết mà không thấy lại quê nhà lần cuối. Ông không thể quên dáng bà nội đi mất hút trong cánh rừng. Ông không hiểu vì sao cha mẹ và dân làng lại phản bội rừng.

Tôi nhận lời, không suy nghĩ sâu sắc gì trước cơn xúc động rùng lên trong lồng ngực ông. Tôi chỉ thèm một chuyến đi miễn phí để thoát khỏi cuộc tình vừa làm tôi rã rời sau những lần hành hạ nhau.

***

Ánh sáng đã hết. Tôi bật đèn pin trên điện thoại và tiếp tục đi. Tôi nghĩ đến người yêu đã rời bỏ tôi, và ý nghĩ dẫn tôi đến đoạn tìm cách làm anh khốn đốn tàn tạ. Điện thoại mất sóng. Nếu đi thẳng thì sẽ đến nhà nghỉ thôi, tôi nghĩ, và bắt đầu nghi ngờ về độ thẳng của mỗi bước chân.

Tôi có thể trả thù người yêu bằng cách biến mất như bà nội – như vậy thì người sống sẽ sống không bằng chết. Người yêu tôi sẽ tàn tạ như vị khách hàng của tôi. Anh sẽ bị tai biến hay liệt giường gì đó và hối tiếc vì đã để mất tôi vĩnh viễn vào hư không. Có khi bà nội của thân chủ tôi bỏ đi để lại cả vùng trời ân hận cho tất cả những người từ bỏ bà. Sự biến mất gặm nhấm người còn sống, suốt đời day dứt họ câu hỏi về sự không toàn vẹn của chia ly.

“Ngọn núi há mồm. Cha tôi đứng ở rìa chân núi khi đi đốt măng rừng. Tôi nhìn thấy núi mở miệng và nuốt chửng ông. Cái bóng của ông khắc đen vào dáng núi. Tôi chạy về nhà. Tôi gọi mẹ. Tôi gọi tên bà nội, ‘Nội nói đúng rồi mẹ ơi’, mẹ chạy từ làng ra. Mặt đất rùng mình hất mẹ ngã. Dân làng túa ra. Mặt đất gãy thành hố, thành đường nứt đen, người trượt chân rơi xuống.”

“Cháu tưởng cả nhà chú theo trực thăng ra đi?”- Tôi hỏi lại ông, cố gắng kiểm tra xem ông có còn minh mẫn không hay tâm trí ông hoang tưởng ra thực tại kỳ quặc nào đó.

“Không, đó là chuyện tôi bịa ra để được di tản đến trại cứu nạn quốc tế. Ngọn núi sẽ đi tìm tôi nếu biết tôi còn sống. Tôi là đứa trẻ sống sót duy nhất sau buổi sáng hôm ấy.” – Nước mắt ông loang ra gối. Chiếc máy nối cổ tay ông với một bình truyền dịch nhấp nháy đèn. Bip. Bip. Bip. Cô y tá yêu cầu tôi ra ngoài, tại sao lại làm ông xúc động như vậy.

***

Hai năm trước tôi trình bày loạt bài viết của mình về tượng rối bị đánh cắp trong cuộc chiến thời thuộc địa cho nhóm các nhà nghiên cứu biểu tượng. Hội thảo diễn ra gần rừng Hala Bala ở miền Nam Thái Lan, nơi mây vuốt đến tay ở lưng núi. Sương trắng chạm mặt người trong chuyến đi bộ giữa ngày thảo luận.

Có hàng ngàn tượng rối bằng gỗ và đá bị trộm, từ trong nhà rông thiêng liêng, đến những trụ gỗ phơi nắng mưa ngoài cửa rừng. Bọn trộm lột bỏ vải vóc, áo quần của tượng rối, luồn chúng xuống hầm tàu ngư dân hay những tàu hàng lậu, thả trôi ra biển rồi chìm vào quên lãng. Bẵng đi gần trăm năm, chúng co ro trồi lên đứng sau song sắt và cửa kính, trang nghiêm và trần truồng dưới ánh nhìn tò mò của du khách Tây phương.

Một con rối có nửa gương mặt mang sừng xoắn và nửa mặt đàn bà được trưng bày trang trọng trong bảo tàng quốc tế ở Châu Âu. Người hướng dẫn viên du lịch nói oang oang đây là bảo vật của rừng thiêng Viễn Đông sau cuộc thảm sát thuộc địa. Trên trán rối còn vết màu đậm ăn loang xuống mắt phải như màu máu của lãng quên.

Con rối rất quen. Chiếc sừng cong của nó chỉ có bộ tộc trong rừng đen chạm khắc. Họ sống giữa những loài sừng sắt núi cao. Con rối nhìn tôi xuyên qua khung hộp kính phản chiếu chính tôi. Nó dẫn tôi về thuở cánh rừng tước vỏ đứng nhìn loài người cho đến khi loài người biến mất vì kịp giết sạch nhau.

Rừng đen biến mất. Cuộc thảm sát mủn thành phù sa. Người quên thật nhanh để sống thật nhanh. Tài liệu cũ viết rằng một binh đoàn quân lính viễn chinh săn trộm khẽ luồn qua những xác người, đem tượng thiêng, mắt thần linh hay miệng gỗ cười đi nửa vòng trái đất, bán vào tay kẻ vô thần tin vào sự hùng biện của linh thiêng. Sau vài chục năm, thần thánh gì cũng thành tù nhân trong tủ kính, ngồm im làm đồ chiêm bảo cho những bảo tàng vinh danh trộm cắp.

Con rối một sừng miệng đàn bà về tay nhà sưu tập ẩn danh với mức giá gây xầm xì trong giới đấu giá. Nhưng hơn hai năm qua, những nhà khảo cổ và giới hoạt động không cách gì tìm ra dấu vết của kẻ thừa tiền nọ. Tôi kết thúc bài nói chuyện bằng lời khẩn khoản gửi đến giới nghiên cứu tìm ra di sản đã mất của rừng đen. Sau buổi tôi thuyết trình, một người đàn ông mặc vest xanh đậm đến gần tôi: “Chủ nhân của tôi muốn mời cô ăn trưa, ông ấy biết về con rối.”

***

“Người làng tin rằng khi con rối cử động trong gió, chúng trò chuyện với cánh rừng, thành đám trẻ con chơi đùa với rừng. Để rừng không u sầu. Rừng không cô đơn chúng tôi sẽ hạnh phúc. Nhà ai cũng làm rối gỗ, treo trên cây cao trước cửa nhà. Khi gió rừng về gỗ va vào nhau lanh canh thành tiếng cười.” – Ông bắt đầu câu chuyện trong nhà hàng Thái nhìn ra bờ biển Songkla.

“Cũng như hàng triệu người đã trôi trên biển này để đến nơi không biết là đâu, những thần vật thiêng liêng của vùng đất có thể hóa thành đồ chơi để người giàu khoe mẽ ở bên kia trái đất. Tôi đã mua con rối đó.”  – Tóc ông ta đã rụng hết, lộ da đầu loang lổ màu của tuổi tàn lụi. Lời thú nhận của ông như cây kim đâm vào phổi tôi. Tôi ho thành tiếng. Bài viết của tôi thiếu mảnh ghép của kẻ trộm cắp cuối cùng. Kẻ ấy đang ngồi trước tôi.

“Nhưng tôi không phải kẻ trộm cắp. Con rối đến từ làng tôi. Nó là con rối treo trên đỉnh nhà rông của làng. Tôi đã nhìn thấy nó từ nhỏ. Nó thuộc về rừng đen. Những đứa con của rừng đen sẽ luôn đi tìm nơi đẻ ra linh hồn chúng.” ông ta đáp như thể đọc được ý nghĩ trong đầu tôi. Bàn tay ông cụt hai ngón út và áp út. Trên tay đeo một chiếc vòng vải vân gỗ, loại hoa văn tôi từng thấy ở buôn làng gần rừng đen, thường được dệt để mặc lên người cho tượng rối, giữ ấm linh hồn trong núi mùa lạnh.

Cả buổi gặp chỉ có ông ta nói, như thể phân bua cho cuộc mua bán mà tôi đang cố vạch mặt mà không cần sự đáp lại của hồ nghi. Sau đó, ông ta chào từ biệt và rời đi.

***

Vậy nếu tôi tìm ra ngôi làng, có phải ngọn núi trong rừng đen cũng sẽ đi tìm tôi không? – Tâm trí tôi càu nhàu, nghĩ tôi dại dột và cần được bảo vệ. Nếu ngọn núi nuốt chửng tôi thì không cần phải lo thêm một miệng ăn trên tinh cầu này.

Ánh trăng rắc màu trắng vào bóng tối, phẳng đục như con ngươi mắt người mù. Không nhấp nháy. Những nhà du hành vũ trụ có thấy màu trắng như tôi đang thấy không? Nếu họ bay ở trên cao và vô can trước dòng lũ ánh sáng này? – Từ màu trắng sữa đen tối, một bóng người tiến lại gần, khối màu đen trừu tượng dần hiện ra nét của đầu và vai.

“Cô là N.?” Cái bóng nói. Tôi gật đầu và chúng tôi cùng đi về hướng bóng tối, vượt qua vùng màu trắng của ánh trăng. “Đừng tò mò quá nhiều. Cô chỉ cần tìm ra ngôi làng của tôi thôi,” vì nhớ lời chỉ dẫn của chủ nhân câu chuyện, tôi kìm lại không đặt câu hỏi nào với cái bóng màu đen đi bên cạnh. Tôi nhận lời giúp vì số tiền và vì sự tò mò với một người sắp chết.

Nhà nghỉ nằm cạnh con suối lớn, cái bóng giải thích. Nếu tiếng nước ồn quá cô có thể đóng hết cửa sổ lại. Một người đàn bà già ra cổng chào tôi và bảo tôi đi tắm, đồ ăn sẽ dọn lên. Tôi nheo mắt dưới ánh đèn cố nhìn rõ chi tiết gương mặt của cái bóng, nhưng người đó đã di chuyển, rời khỏi tầm của ánh đèn. Người bà chạm vai tôi. Tôi để ý bà có một chiếc khăn choàng màu xám than và chuyển động mềm mại như dải lông gấu.

“Rau mầm ngọc từng rất hiếm. Chỉ có đất rừng đen trồng được mầm ngọc thôi.”- Bà đặt đĩa rau trước mặt tôi, vạt lá lớn chiếm gần hết chiếc đĩa. Như thuở tôi còn bé, thường đội một chiếc lá môn đi học về khi mưa. Lá mầm ngọc to như lá môn. “Người làng nói ai ăn mầm ngọc sẽ thành con ruột của làng.” Bà cười rồi rờ tay sau cột nhà tìm hướng quay ra cửa. Hóa ra mắt bà không nhìn rõ.

Mọi người rời đi. Một chiếc chén trên bàn ăn nứt ở góc. Tôi đưa ngón tay vân vê cạnh nứt, tìm đến gờ sắc nhọn. Đây là loại gốm nung trong lửa lớn ở làng, trong những lò than đúc sâu vào ngực đồi. Ông chủ uống nước từ một chiếc chén tương tự mang từ làng đến dinh thự hiện thời khi tôi ghé thăm. Ông nói uống vào hạt đất sẽ giúp ông không bao giờ quên quê hương. Vì đất là tim là máu sinh nở ra mình từ bụng mẹ. Gờ sắc trên chén đâm vào tay tôi. Giọt máu thấm vào những hạt đất li ti tạo thành chiếc chén. Tôi úp ngược chén cố tìm xem giọt máu đã biến đi đâu.

Bên ngoài gió lắc lư. Tiếng gỗ chạm vào nhau lanh canh. Các con rối chơi đùa với rừng đen. Tay chân của gỗ như thân thể của sinh phận người. Người đã biến mất khỏi cõi đời, nhưng di ức và linh hồn không ngủ yên sẽ bấu lấy rối, ở đó và chuyện trò. Không ai được quên người chết đi. Không ai bôi xóa được ký ức của ngôi làng đã phân hủy thành mùn đất. Các con rối hát theo tiếng suối (hay là tôi tưởng tượng?).

Chủ nhân của tôi giải thích, con rối có nửa mặt mang sừng xoắn và nửa mặt đàn bà vì đó là người đàn bà đầu tiên đẻ ra làng. Bà là con của một con bò rừng cái sừng sắt. Bà bú sữa từ vú con bò cho đến khi lớn phổng phao thành đàn bà và đẻ ra đàn lớp con cái nương nhờ vào lưng núi. Sau đó bà phóng chạy vào núi cao, để lại tượng rối mang nửa gương mặt mẹ bò và nửa mặt của chính bà. Thời gian đã trôi qua đủ lâu để những đứa con quên mất chúng là con của bà và của rừng. Chúng chuẩn bị ăn thịt mẹ.

***

“Nếu cô tìm thấy làng, cô sẽ nhận ra. Đó là làng giàu nhất dãy núi. Đất ở làng màu xanh lam – nhà cửa nằm trên một mỏ đất hiếm, một sự giàu có không thể che đậy.” Trong giấc ngủ tôi nghe tiếng ông nói. Mắt tôi lén nhìn xuống chiếc áo bệnh nhân cotton xanh che quá đầu gối ông. Nhiều vết ố loang trên vải và dính vào người ông. Đôi lần tôi có thể thấy gờ của da thịt bên dưới. Thực ra áo màu xanh hay dịch lỏng màu xanh?

Không cách gì ngủ được. Tôi nằm trong bóng tối dùng tay trái cố lần mò vết cứa bên tay phải, xem thử có thể thấy nó sưng lên hay không. Tôi thò tay xuống chân giường, với lấy một chiếc giày sneaker và bật đèn điện thoại. Đất lấm trên giày lấp lánh, mang màu của sự quyến rũ mà có lẽ người làng đã tìm thấy thuở xưa. Tôi đếm nhịp thở và cố chìm vào giấc ngủ.

***

Đàn ông trong làng đứng cạnh ngoàm xúc khổng lồ bằng kim loại, bắt tay những người lạ có màu da khác. Sau lưng người, dãy núi trùng điệp ụ lên cao như những chiếc bụng bầu đến ngày vỡ ối. Tiếng máy móc ì ầm chuyển động, vục xuống đất cào lấy thịt đất, vung lên đổ qua máy sàng lọc. Những vồng núi bể tươm. Đất rào rào bay tươm tãi xanh biếc. Những chiếc bụng bầu đó không bao giờ hoài thai nữa. Chúng chết lưu vì những người anh em khao khát giàu có. Nước suối từ núi chảy ra bỗng đổi màu xanh biếc. Đàn nai uống một hơi rồi chạy đâm đầu vào gỗ trắc tự tử. Gấu lang thang đến miệng vực rồi bước vào không trung không luyến tiếc. Chó rừng hú thành dàn nhạc dưới trăng nứt, rồi chúng cắn thanh quản nhau la liệt trên đồi đất xanh.

Bà nội đã chọn cánh rừng thay vì thông đồng với dân làng để xô đổ ngọn núi. Cả làng nói bà già quá hóa điên. Bà bị trừng phạt, đẩy vào rừng sâu một mình. Khi đi bà nói với tôi đừng quên những đứa con ăn thịt rừng, ăn thịt ngọn núi hoài thai. Bà biến mất trong núi. Đất hiếm đầu độc làng thành đàn con tham lam. Khi cha mẹ tôi bị ngọn núi nuốt chửng, làng đã cùng người lạ san bằng không biết bao nhiêu đỉnh cao chết lưu. Những người anh em không thể ra đời nữa trên thân của mẹ bò rừng. Họ ăn xác nhau đổi lấy sự thịnh vượng tươm vào thịt da.  

Tay chân rối gỗ lanh canh va vào nhau kể chuyện trong tiếng suối.

***

Tôi tỉnh dậy khi bình minh thở. Nhà khách trống rỗng. Nền nhà kêu lót cót như tiếng của loài bò sát cựa đẩy từng mẩu da lột xác. Không hề có cánh cửa nào đêm qua khép để che đi tiếng suối hò hát. Chỉ có gian nhà đắp đất và ván gỗ mỏng nhìn thẳng vào chân trời. Lưng tôi đau như bị ghì nghiến bởi sinh vật nào đó ăn xương. Con rối hôm qua bấu tòong teng trên thân cổ thụ ở đúng vị trí cổng làng. Nó mất thêm một chân. Trong ánh sáng tôi thấy rõ gương mặt người đàn bà môi dày phúc hậu lắc lư theo gió. Chiếc sừng bên phải đã gãy chỉ còn dấu gỗ từng chạm khắc ở đó.

Tôi nhìn xuống tay mình. Đầu vết xước đêm qua rỉ ra một giọt máu trong veo màu xanh.  

Trước mặt tôi, ngọn núi mở mồm và những thân cây quỵ ngã.

Khải Đơn

========

Mời tác giả một tách cafe

Nếu bạn thấy thích bài viết, bạn có thể comment về các chủ đề bạn muốn tôi viết ở bên dưới. Tôi sẽ tìm hiểu và viết. Cảm ơn bạn đã theo dõi trang viết của tôi.

$2.00

Comment

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

Up ↑

%d người thích bài này: