Ở thành phố R: Mất mẹ

Thành phố R bước vào cuối mùa hủy diệt. Ở đây, Sa thường nghĩ đến cảnh mình đi đến cuối Đại Lộ – chui vào đường hầm – và được thả ra thành bụi khí. Mẹ Sa từng nói: “Ai cũng nên đi đến đó, để được trở thành không khí. Con sẽ hít thở và biết có mẹ trong lồng ngực.”

Sa không hiểu hít thở trong lồng ngực thì có gì vui, nhưng từ hôm ấy, thỉnh thoảng Sa thấy mẹ ngồi gần bàn ăn, nhìn xa xăm ra cánh cửa sổ tầng 12, hướng về Đại Lộ. Người ta bảo sắp đến thời khắc của mẹ. Không nói ra một lời, nhưng Sa nghĩ rằng đó chắc là một chuyến đi rất xa – có khi mẹ vội quá không kịp về làm bữa tối nữa. Sa thở dài, nhìn theo mẹ ra cửa sổ: “Nếu về nhà, mà không có cơm của mẹ, chắc con chết đói.” – Mẹ Sa như một người lên đồng, rời khỏi cánh cửa, đi lại gần Sa và sờ vào má cô: “Không quan trọng, lúc ấy mẹ sẽ là khí thở của con. Con sẽ không chết. Định mệnh đã nói thế rồi.”  – Lúc ấy ánh mắt mẹ hân hoan như lên đồng, như sắp bay lên và tan vào mặt trời để đến được chốn toàn vẹn nào đó đầy sức thôi khiến rực rỡ.

red_city_by_tealzeh-d3djrfp

Sa khép cửa phòng, đếm những vết dao lam cứa vào từng thớ da trên tay. Đêm tối ở thành phố R không có ánh sáng nào, Sa nghe thấy máu mình rơi xuống sàn, thỏa mãn trong cơn khoái cảm đau xót cắn vào da. Máu của mình sẽ là ánh sáng – sẽ thoa đầy lên trán mặt trời, sẽ trả đũa cái đơn điệu và sự câm lặng này. Sa thiếp đi trên sàn, thảm chùi chân rướm máu. Dao lam ánh lên trong đêm màu của tủi buồn. Mẹ bảo mẹ thấy vọng vì Sa. Tại sao mẹ lại nói thế? Mẹ có thể thay thế Sa bằng cách đẻ ra một đứa con nào đó mới. Còn Sa đâu có thay thế được mẹ? Sa oán hờn, máu dội vào ngọn lửa và Sa thiếp đi.

Mẹ bảo vì Sa mẹ có thể làm tất cả. “Nhưng mẹ có muốn làm mẹ của tôi đâu?” – Sa cắm con dao đang xắt trái cây lên bàn. Mẹ giật mình. Sa bỏ vào phòng.

Ở thành phố R, Sa đi bộ trên hàng rào như một con mèo khát bóng đêm, thỉnh thoảng nghe họ kể chuyện. Có những người đàn bà nói: Trở thành cát bụi là định mệnh. Mình hiến thân cho thành phố. Con mình sẽ có bình minh. Mình sẽ có một cuộc đời viên mãn, đẻ ra một đứa con, và cho nó một cuộc đời. Cát bụi là một sự quý giá như vàng, con mình sẽ hít thở và trồng cây trên thân xác mình hiến cho nó.  - Sa định cãi lại. Rồi lại im lặng lướt đi trên những hàng rào.

“Con là một viên ngọc quý. Con nhớ chưa? Mẹ sẽ trở về và hiến mình cho con. Con sẽ có tương lai.” – Mẹ Sa lầm rầm – “Mẹ điên à? Trở thành cát bụi đâu phải là sống? Mẹ có phải những người đàn bà điên mà con gặp đêm qua?” – Sa ném đôi giày bám tường vào xó nhà. – “Những người trên Đại Lộ đã phát đi lời truyền. Dù muốn hay không cũng đến lúc ấy. Mẹ biết mẹ sẽ hóa thành bụi, và thấm vào đất đi dưới chân con. Đó không phải điều tuyệt diệu sao?” – Mắt mẹ long lên như đón chờ một ánh sáng ảo huyền ở đâu đó từ Đại Lộ – cách ngôi nhà hàng ngàn dặm trên cao. Trong cơn hưng phấn ý niệm, mẹ đưa hai tay áp vào má Sa. Bàn tay lạnh và mỏng như những đốt xương người. Sa hất mẹ ra, chạy nhanh khỏi phòng.

Mẹ đi không một vết chào. Chỉ là buổi sáng, Sa cựa mình với vết máu vừa khô xót xót nơi tay. Sa mặc quần áo vào đi ra bếp, tìm cửa sổ và bữa sáng. Bếp lạnh. Cửa sổ hình như mở từ đêm qua, một chút khí bụi tràn vào nhà. Sa hít một hơi, thấy phổi mình rám ráp. Vậy là đêm qua có một đợt thiêu, bụi nhiều hơn trong không khí nên tràn vào cả tầng 12.

Black_and_Red_City_by_RdSnpr08

Dép của mẹ không còn ngoài cửa. Ờ, vậy là mẹ tan thành không khí rồi?

Sa thoáng nghĩ rồi hít hít hít một hơi cho đầy ắp khí trong phổi. Thứ mùi này là mùi của mẹ sao?

Sa đi vào bồn tắm, trút bỏ quần áo, ngồi vào chậu, xả cho nước nóng bay trên vòi xuống. Máu rỉ ra từ các vết khô trên cánh tay, cổ chân. Máu tan hồng đi trong nước. Sa dòm cái vết màu tím thẫm trên cổ mình trong chiếc gương trước mặt – mẹ nói – con đặc biệt lắm, hơn toàn bộ thành phố R này. Có lẽ còn hơn cả Đại Lộ. Mẹ nói cả ngàn lần từ lúc Sa biết nhớ, mỗi khi mẹ tắm cho Sa.

Trong nước tắm có mùi máu. Sa ngửi thấy mùi của mẹ. Từ hôm đó, Sa là người cô độc ở thành phố R.

Lúc Sa đang để nước bọc lấy người mình, bỗng nhiên thành phố phủ một cơn gió màu đỏ, bắn vào cửa sổ nhà. Sa đứng dậy từ bồn tắm, trần truồng, những dòng nước màu đỏ trôi qua khe ngực, chảy xuống dưới. Thân thể Sa phô phang như các hạt nước tắm màu hồng, thản nhiên, vài nhúm lông sậm đã mọc như cỏ mai giữa đùi.

Cứ như vậy, Sa dường như không tin vào mắt mình nữa: Từ khung cửa sổ phòng tắm nhìn sang ô kính tòa nhà đối diện, Sa thấy chính mình, trần truồng, diễu cợt, chạy như bay qua những hành lang, mái tóc sũ đỏ, bàn tay vờn vẽ trên không, miệng mấp máy thành mấy lời mà Sa có thể hiểu được:

Máu là thức ăn của thành phố. CHẠY ĐI!

Cô con gái giống Sa biến mất ở một khúc quanh. Trần truồng.

Sa thấy mình mềm oặt đi, ngã vào bóng tối.

 

Khải Đơn

Những tháng ngày ngủ trong lớp học

Tôi không biết những người làm việc đứng trên bục giảng sẽ có cảm xúc thế nào mỗi khi họ chứng kiến những đứa học trò chúng tôi ngủ khò khò dưới bàn học.

Ngày xưa đi học, lớp tôi là một trong những hình ảnh kì quặc của chuyện ngủ. Có bữa, một đứa tỉnh táo nào đó đã chụp lại, trong tấm hình, có chừng 4 đứa ngồi thẳng lưng và gần chục đứa xung quanh nằm ngủ la liệt, duỗi chân, chảy nước dãi. Cái đứa chảy nước dãi thậm chí còn chẳng quan tâm xem ai đang chụp hình làm xấu mặt nó nữa. Mỗi khi coi lại hình đều cười rúc rích. Chắc không ai biết lớp tôi số lượng tới 100 đứa lận.

Và tôi là một trong những đứa ngủ nhiều nhất. Không hiểu vì sao.

Hình chôm trên mạng, không phải lớp em :(

Hình chôm trên mạng, không phải lớp em :(

Giờ học lịch sử báo chí là một trong những giờ tôi ngủ đều đặn nhất. Thầy nói kệ thầy. Tôi ngủ kệ tôi. Không ai quan tâm ai. Thầy có một quyển sổ vàng xỉn ảo não. Thầy xuất hiện như một bóng ma, lẳng lặng bay vào lớp, đều nhịp đọc những câu trong sách ra, giai điệu ôn hòa và không khí trầm lặng. Quyển sổ ấy chắc 50 tuổi. Tôi không rõ. Hồi đó lịch sử báo chí gì kì quặc, học xong thời ông Trương Vĩnh Ký nhảy ùm 1 phát qua luôn thời cách mạng, trong khi đó báo chí Sài Gòn éo ai nhắc tên. Điều kì diệu là tôi nhớ tên thầy và cả mặt thầy, và tôi không hiểu vì sao khi làm thầy người ta lại có thể lười vậy, đi dạy với một quyển giáo án chép tám trăm kiếp trước, với mớ ví dụ năm trăm tuổi và những câu cú viết 50 năm xưa. Lúc đó tôi thắc mắc, tại sao những người lười như thế mà lũ sinh viên chúng tôi lại phải trả tiền để mua kiến thức và phung phí thời gian. Họ có dành thời gian cho tụi tôi đâu? Đến cả giáo án họ còn chả thèm soạn thêm ví dụ mới mà!

Có thêm vài giờ học chuyên ngành khác khiến tôi ngạc nhiên. Một giáo viên dạy tụi tôi viết kịch bản truyền hình bằng một cái format mà khi ra trường tất cả bọn truyền hình đều bảo chả có cái đài nào xài. Một người dạy vài môn văn học gì đấy nói chuyện trong tiếng thầm thì lẳng lặng. Người dạy triết học mê mẩn nói các em hãy nghe thầy đọc thơ, thay vì thầy chịu update bài học triết học mà cứ nhai mãi đi lại mớ tóm tắt triết gia này nói vầy, triết gia kia nói thế nhưng chủ nghĩa cộng sản là nhất. Thậm chí, người dạy quay phim đến lớp trong trạng thái đang xỉn mơ màng với một cọc tiền 500k dày trong túi, không biết có liên quan gì đến môn học.

Có vài người dạy vài môn gì đó tôi quên tên là gì rồi, nhưng tôi nhớ là họ lấy các ví dụ báo chí rất kì quặc. Năm tôi học là 2005, họ lấy ví dụ báo chí năm 1997. Hồi ấy có lẽ 90% trong lớp tôi chưa đứa nào biết đọc báo và giờ thì chả biết tìm mua báo năm 1997 đâu mà tham khảo.

Tôi có một cô giáo, cô đi dạy và mỗi năm lại có các ví dụ mới, thậm chí phải đi xin đồng nghiệp là nhà báo từng bản tin để làm mẫu, vì sợ ví dụ năm ngoái cũ rồi, tụi nhỏ đọc không hiểu, mà thậm chí cách trình bày bản tin nó còn khác đi nữa là…Lúc nào cô cũng bảo với tôi cô sợ sinh viên chán cô, sợ tụi nó ngủ mất. Và thậm chí mỗi môn cô dạy với sinh viên/cán bộ/người đi làm, cô còn lấy các ví dụ khác nhau cho phù hợp với giới người. Còn tôi hồi ấy ko hiểu sao lại có những kiểu thầy cô đủ can đảm lấy ví dụ 1997 để bảo lũ sinh viên 2005 là các em hãy hiểu câu chuyện đó.

Là một sinh viên lúc bấy giờ, tôi còn nhớ một thầy già dạy kinh tế chính trị. Thầy nhìn vừa già vừa cũ, môn học của thầy cũng chán thấy bà. Nhưng thầy giảng rất chăm chỉ, nói rất to, và sẵn sàng trả lời các câu hỏi kiểu rất ngay đơ, cứng đầu của lũ trẻ con chúng tôi, sau này có những câu hỏi khi nhớ lại thì cực kì kì quặc, vậy mà thầy vẫn trả lời. Giờ đó sao tôi học không thấy buồn ngủ, dù tôi vừa dốt cả kinh tế lẫn chính trị. Thầy luôn mỉm cười khi có đứa chào thầy và luôn chào cả lớp khi hết tiết. Sự chừng mực đó của ông không khiến tôi buồn ngủ.

Có một ông thầy dạy tụi tôi môn viết tin. Ông sửa bài cho từng đứa, đọc to tên từng đứa viết hay, đọc cả nhận xét những đứa nào viết kì quái. Một lớp 100 đứa mà ông chịu chấm 100 bài theo 100 kiểu. Tôi còn nhớ cái tin đầu tiên tôi viết, ông đã khoanh tròn câu đầu tiên của tôi và ghi chú là câu quá dài, ý lung tung, không rõ ràng, câu đầu chỉ nên diễn đạt 1 ý quan trọng nhất của sự kiện. Nói chung tôi là một trong những đứa viết tin ngu nhất lớp, nhưng tôi cũng không ngủ trong giờ của ông, vì một lí do huyền nhiệm nào cũng chẳng biết.

Giờ tôi nghĩ lại các giờ ngủ của mình trong lớp học, tệ hại hơn là tôi đã trốn học rất nhiều môn để đi chơi. Có lúc tôi thấy mình là một kẻ thiếu tôn trọng người giảng dạy. Nhưng thời đó, quả thật tôi đã nghĩ là, với một giáo viên lười, mình cũng không nên mất thời gian mà chăm chỉ với họ làm gì.

Đi ngủ cho đẹp trời.

Khải Đơn

 

Những người Trung Quốc

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đọc thấy những cảm xúc kiểu: “Đáng đời, chết bớt tụi Tàu đi!” hay “cứ Khựa chết là an tâm rồi!” xuất hiện sau khi máy bay Malaysia mất tích với 158 hành khách Trung Quốc.

Có người còn bình phẩm thân nhân của hành khách Trung Quốc là “vô văn hóa” vì họ khóc và chửi Malaysia Airlines không cung cấp thông tin về người thân yêu đã mất tích của họ.

A relative of a passenger onboard Malaysia Airlines flight MH370 cries at the Beijing Capital International Airport

Tôi đã từng gặp những người bị chết người thân sau một cuộc dẫm đạp, mất cả gia đình vì sóng thần và bị thương vì súng ở vùng giao tranh, hoặc một người mẹ có đứa con của mình vừa chết vì làm dâu ở xứ người. Tôi không biết liệu những người vừa bình phẩm ác ý như thế có khác gì với những con người đang đau khổ vì biết mình vừa vuột khỏi tay người thân yêu của mình – MÀ KHÔNG HIỂU VÌ SAO. Nhưng tôi tin rằng sẽ không có một ai có thể bình tĩnh cười hiền dịu thanh lịch sau 4 ngày người thân của mình biến mất trên một chiếc máy bay to oành không còn dấu vết gì trên đời cả. Và mọi sự đau khổ đều đáng được thông cảm. Mọi sự giận dữ và nước mắt đều đáng được trân trọng, vì khi là người – ta sẽ khóc thương đồng loại mình trước cái chết và sự thương tâm.

Tôi không rõ liệu 158 con người (sinh ra vào thế kỷ 20) liệu có thù hận gì với mấy cuộc chiến diễn ra tám chục kiếp trước hay không (hoặc có trót lừa đảo ai trong mấy bạn chửi đó không), nhưng tôi không tin rằng, khi ta ném vào mặt nhau một mũi dao – thì cuộc đời sẽ chả tốt đẹp lên tí nào hết.

Tôi vẫn còn nhớ hồi là sinh viên đại học, cả trường tôi sinh viên xuống đường ở đại sứ quán Trung Quốc. Lúc ấy nhiều sinh viên Trung Quốc đang du học trong trường tôi sợ lắm, mấy bạn bảo họ không dám ra đường vào buổi tối, họ nghĩ người Việt Nam căm ghét họ và họ cảm thấy bạn trong trường nhìn họ “lạ lắm”. Tôi cũng không biết trả lời thế nào – lúc ấy, tôi chỉ thầm tự hỏi, mấy đứa nhóc sinh năm 1987 như tôi thì có éo tội tình chiến tranh gì mà bị người ta chửi bới chứ???? Tụi nó đi du học mà.

b

Mẹ tui là một Việt kiều ở TQ – mẹ kể rằng ông tôi là thợ ôtô bậc 7 cho một nhà máy ở Trung Quốc. Ngày nào mẹ cũng có phiếu lấy sữa về cho 5 anh em uống vì ông là người giỏi chuyên môn, được đối xử như lãnh đạo trong nhà máy dù không có vai vế gì. Anh học trò Trung Quốc của ông tôi dù theo ông học từ lúc mẹ tôi chưa ra đời, đến tận lúc mẹ tôi 14 tuổi, anh vẫn qua nhà chào hỏi, phụ giúp ông. Xong mẹ kể tiếp, sau khi cả nhà kêu gọi “yêu nước” về Việt Nam của “mấy ai đó”, ông tôi được phân công về Hà Tiên công tác – rồi khổ sở từ ấy, cái gì cũng tem phiếu công nhân. Là thợ máy bậc 7, ông phải mở thêm ở nhà một cái tiệm sửa xe đạp để có thứ này thứ kia cho con cái ăn – lãnh đạo công ty đi ngang qua sửa xe, thay hết thứ này đến thứ khác rồi cười hề hề xin “miễn phí nha”! Đó là khoảng thời gian mẹ tôi khổ nhất kể xong mẹ bảo, chả biết “yêu nước” sướng cỡ nào.

Tôi cũng hổng biết căm ghét người Trung Quốc thì sướng chỗ nào :))

Khải Đơn

“Trên đường” – Jack Kerouac: Khi những kẻ mê đi cần một người bạn đường dài…

Nếu bạn ở trên đường, đi qua bụi mù và đơn độc, thì Jack Kerouac sẽ ở bên bạn. Không buồn đâu, không cô độc, chỉ có những con đường ngoài kia, trẻ mãi, vui mãi và yêu đương khôn xiết.

Lần đầu tiên tôi đọc “Trên đường” là lúc tôi ngồi một mình trong Angkor Wat. Tới bây giờ với tôi, cảm giác ấy vẫn là một sự rung rinh dịu dàng. Tôi nghĩ mình đã yêu, yêu đền đài trước mặt và yêu bàn chân mà Sal Paradise đã đi.

Cuốn sách này đơn giản lắm, nó là hằng hà sa số những cuộc đi tới đi lui của anh nhà văn trẻ Sal Paradise – sau khi “khám phá” ra trên đời này có một gã tên là Dean Moriarty. Sal viết: “Dean Moriarty đến là bắt đầu một chương mới trong đời tôi, có thể đặt tên cho nó là “đời tôi trên những con đường”, hay “Về chuyện ngao du trên đường thì Dean là típ người hoàn hảo, bởi vì hắn được đẻ ra ngay trên đường, trong một cái ôtô xập xệ, khi bố mẹ hắn đi ngang qua Salt Lake City để về Los Angeles năm 1926.”

Rồi từ ấy trở đi, cuộc đời họ trở thành các vì sao, lao nhanh vào vũ trụ của các con đường, không quỹ đạo, không ngần ngại, không cả những toan lo vớ vẩn mà bất cứ ai trên đời này. Những trang viết là dòng chảy khấp khởi của các ý nghĩa, sự hưng phấn không chịu nổi của tình yêu, vẻ đẹp các quãng đường, những cơn mê cuồng dại trong vẻ đẹp của một cánh đồng, của mùa đông, của một quãng đường dài khủng khiếp đầy gió bụi.

Phong cách viết của Jack Kerouac là điển hình cho thế hệ Beat. Với đầy đủ những đặc trưng của dòng chảy này: Coi những tự sự trần trụi, tươi mới là hạt mầm của sáng tạo. Ở bất cứ đâu trong “Trên Đường”, bạn đều có thể bắt gặp những câu viết nhanh, hưng phấn tột cùng trong ý nghĩ, xúc cảm tươi rói, không bó buộc chút gì trong các quy tắc ngôn ngữ thông thường:

“Trong một thoáng, tôi đã đạt tới cực điểm cảm xúc mà bấy lâu nay tôi hằng ao ước, hoàn toàn bước qua ranh giới của thời gian vật chất sang vùng bóng tối phi thời gian, kinh ngạc trước sự lạnh lẽo của cõi hữu hạn, cảm giác như cái chết đang đuổi theo sát gót buộc mình tiến về phía trước, theo sát nó lại là một bóng ma khác, và chính tôi đang vội vàng chạy về nơi các thiên thần vỗ cánh bay vào khoảng không thiêng liêng vô cùng tận, nơi ánh sáng giác ngộ phi thường không sao lý giải nổi trong Bản thể Nhận thức chói loà, biết bao cõi bình an mở ra trong ánh sáng diệu kỳ từ thiên đường rọi xuống. Tôi có thể nghe thấy tiếng gầm gào náo động không sao miêu tả nổi không những trong tai tôi mà còn ở khắp nơi và cứ mặc kệ những âm thanh đó. Tôi nhận ra là mình đã chết đi và sống lại đến ngàn lần nhưng không sao nhớ nổi chính xác bởi lẽ bước nối tiếp từ sự sống sang cái chết thật quá dễ dàng, chỉ là một phép thần của hư vô, chỉ như thiếp đi rồi lại đứng dậy đi lại hàng triệu lần, hoàn toàn  bình thường và chẳng ai hay biết. Tôi nhận ra rằng nhờ tính ổn định của Nhận thức thực chất mà sự sống và cái chết mới diễn ra như làn sóng, như cơn gió lay động mặt nước hồ trong vắt, yên ả, phẳng lặng như gương. Tôi cảm thá6y hạnh phúc ngọt ngào, ngây ngất như vừa tiêm vào động mạch chủ một mũi heroin; như một chầu rượu cuối chiều và bỗng thấy mình run rẩy. Chân tôi như có kiến đốt. Tôi nghĩ bụng có lẽ mình chết đến nơi rồi. Nhưng tôi không chết và lại cuốc bộ bốn dặm đường, nhặt được mười đầu mẩu thuốc lá mang về phòng của Marylou, nhét số thuốc còn lại trong đó vào tẩu rồi châm lửa hút…”

Cũng ở đoạn văn trên, người đọc có thể thấy thêm một đặc trưng nữa của trào lưu Beat: “Ý thức của nghệ sĩ được mở rộng ra vô hạn trong những hỗn loạn của giác quan” – và cách hầu hết những nhà văn như JackKerouac sử dụng để tạo ra cảm xúc bất thần là nương nhờ vào cơn say ma tuý.

“Trên đường” chứa hàng trăm đoạn văn mà khi đọc bạn cảm thấy mình ở trong đó, phân vân vì từng đồng bạc lẻ trước khi lên đường, hú hét điên dại trong cơn hứng chí giữa con đường ngập tuyết, điên lên vì yêu đương, ghen tuông, rủa xả rồi lại lao vào nhau giữa những cuộc làm tình không bờ bến. Đọc quyển này, cứ như ta uống hoài, uống hoài, uống cho đã cái hơi men tuổi trẻ mà Jack Kerouac đã vắt vào, ném lên trời, hệt như các vì sao tả tơi trong đêm tối hoang dại. Các chàng trai cô gái trong sách cứ dâng lên trong ngày tháng không bờ bến của họ, làm tất cả những gì mình muốn, bất chấp thế giới đổi thay, và thỉnh thoảng có người gục ngã không chút ngần ngại. Dean yêu Marylou, rồi Dean đi lấy Camille, còn Marylou đi lấy một gã thuỷ thủ, rồi họ lại lao vào nhau trên đường. Sal yêu Terry trên nông trại, rồi rời bỏ nàng vì con đường vẫy gọi. Họ đến, rời đi, bỏ lại những mái nhà để kiếm tìm khoái cảm vô tận của tuổi trẻ…

Tôi không phải người nghe nhạc Jazz nên không rành lắm. Nhưng cũng trong quyển này, có một “nhân vật” quan trọng là: nhạc Jazz, hiện hữu đầy rẫy trong các quán bar, trong căn phòng tối cả đám phê thuốc, trong cuộc nhảy múa điên cuồng với tay chơi kèn thần sầu. Có những đoạn viết kiểu như vầy:

“Tay saxo đội mũ đang trong trạng thái ứng tác kỳ thú, lặp lại điệp khúc trầm bổng từ “II –ya!” dến âm điệu phá cách hơn “II-đe-li-ya!”, cứ thế hoà điệu cùng tiếng trống dồn dập của một tay trống da đen có cái cổ to như cổ bò, gã này bất cần mlọi thứ, chỉ quan tâm đến mỗi cái dàn trống của gã, đập, gõ , đập. Âm nhạc cuồng nhiệt, tay saxo đã tạo nên điều đó và mọi người đều biết chính gã đã tạo nên điều đó. Dean ôm lấy đầu, chen chúc trong đám đông như đang phát điên. Tất cả mọi người đang cổ vũ tay saxo cữ giữ mãi đoạn đó, họ la hét với những đôi mắt như điên dại, gã lại đứng thẳng lên sau cú gập người lấy hơi rồi lại chùng người xuống, tiếp tục khúc nhạc trong tiếng hò hét thán phục. Một phụ nữ da đen gầy nhẳng cao lêny khênh đang lắc lưu chạm đống xương của cô ta vào cây kèn của gã, gã chẳng quan tâm, cứ thế thúc cây kèn vào cô ta, “Ii! Ii! Ii!”

….

“Hắn xoa ngực xoa bụng, mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt. Gã đánh trống đẩy tiếng trống xuống thật thấp rồi dồn dập tăng nhịp và cường độ lên bằng đôi dùi hay chết người của gã. Một gã to béo nhảy lên bục biểu diễn, làm cái bục lún xuống và kêu cót két. “Yo!” Tay piano lướt trên phím đàn bằng cả mười ngón tay xoè rộng, tạo ra những hợp âm nhanh trong lúc gã saxo vĩ đại đó lấy hơi cho một cao trào mới – những hợp âm kiểu kinh kịch Trung Quốc khiến từng đường dây thớ gỗ của cây piano rung chuyển. Rồi từ trên bục, tay saxo nhảy xuống, đứng giữa đám đông, vung kèn ra cho bốn hướng thổi, mũ sụp xuống mắt; ai đó đội lại mũ cho gã, Gã ngả người ra sau, lại nghỉ lấy hơi, giậm chân xuống sàn và tung ra những nốt trầm khàn, rồi lại lấy hơi, nâng kèn lên thổi những giai điệu thanh thoát, mênh mông, xé tan bầu không khí. Dean đang đứng ngay trước mặt gã, mặt nghiên xuống gần sát bàn kèn, tay vỗ nhịp, mồ hôi rỏ tong tong lên phím kèn, gã nhìn thấy, thế là gã thổi vào tiếng kèn một tràng cười dài như điên dại, và mọi người cũng cười theo, lắc lư người liên tục. Cuối cùng tay saxo quyết định lên đến đỉnh điểm, gã quỳ mọp xuống, ngận dài mãi một nốt đô chói tai trong khi mọi thứ như vỡ toác hết và khán giả gào thét mỗi lúc một to thêm.”

Trong cách viết này, câu từ lặp đi lặp lại để thể hiện cái chết bên trong của một thứ khác, vượt qua giới hạn của giác quan, chiêm ngưỡng khoái lạc, về sự sung mãn lạ thường của cuộc sống. Và ở giữa các đoạn văn, người đọc có thể thấy được những âu lo, nỗi buồn thầm kín, những đổ vỡ của con người của “Thế hệ đã mất” sau chiến tranh thời Kerouac: đôi lúc chán ghét cuộc sống đến thù hằn, rồi lại đau đớn yêu thương nó vì sự rực rỡ quá đỗi của các cung bậc bay bổng ngoài kia.

Linh hồn của Dean Moriarty có lẽ là linh hồn của một con đường. Gã đi như mây gió, gã kéo theo Sal, kéo theo cô tình nhân Marylou xinh xẻo ngu ngốc, rồi gã sẵn sàng vứt bỏ họ bên đường, vứt bỏ mái nhà, vứt bỏ Sal, vứt bỏ tất cả, để chạy theo con đường. Dean không có lỗi. Chỉ là Dean không dừng lại được. Có lẽ, nếu l1uc Dean ngừng lại, gã sẽ chết vì u buồn và đơn điệu, sẽ chết giống như một người đang cần khí thở liền bị ai đó bóp cổ vậy.

Trong một chặng đường ở Mexico, Dean đã bỏ lại Sal khi đang bị kiết lị. Hắn nói: “Sal tội nghiệp, Sal tội nghiệp, ông bị ốm rồi. Stan sẽ chăm sóc ông. Cố nghe tôi nói đây, dù ông đang bệnh: tôi vừa nhận được ở đây giấy tờ ly hôn với Camille, tối nay tôi về New York với Inex, nếu cái xe còn đủ sức.”

“Lại từ đầu à?” tôi kêu lên,

… Sal đã nghĩ về điều đó như một sự phản bội, nhưng cũng ngay lúc đó Sal hiểu ra rằng Dean phải chạy đua với cuộc đời ngột ngạt này, vứt bỏ mọi thứ để lại được ở trên đường, lái xe và đi khắp thế gian của hắn.

Hắn là tuổi trẻ, là sự huy hoàng duy nhất còn lại trong bóng tối già nua bủa vây và nỗi buồn rũ rượi….

Jack Kerouac

“Trên đường” là một tuổi trẻ ngây ngất cho những ai đang đeo balô và đi xa, đang du hý đâu đó, đang đơn độc tận hưởng cõi đời này, hãy nhai bánh mì nhạt, uống cà phê và đọc một đoạn.

Đó là một niềm vui lộng lẫy bé xíu xiu thôi…. và mình không thể nào cưỡng lại.

Khải Đơn

================

Năm 2012, đã có một bộ phim chuyển thể từ tác phẩm này ra đời, cũng tên là “On the road”. Có điều, sau khi coi bộ phim này thì tôi đã nghĩ tốt hơn là mình không xem. Em Kristen Steward đóng “On the road” theo đúng kiểu “Twightlight” – với cái mặt đơn 100% thậm chí không thể diễn tả nổi cái sự xinh đẹp ngồi ngời và “ngu không chịu nổi” của em Marylou trong chiện. Cái kiểu ngu của em Kristen là một kiểu hoàn toàn khác :))

Ngoài ra quan điểm của bạn đạo diễn trước sự “phản bội” của Dean khi Sal bị kiết lị tại Mexico hoàn toàn khác. Trong phim, đạo diễn đã cho bạn Sal phẫn nộ trước sự “phản bội” này, trong khi trong cuốn truyện hoàn toàn không có quan điểm này. Vậy thôi, còn hình ảnh thì đẹp rờ rỡ, các nhân vật nam đẹp rờ rỡ, chỉ có em Kristen đúng là ko thể chịu đựng được.

Rực rỡ nhất Sài Gòn

Thủ Thiêm là nơi tôi yêu nhất ở Sài Gòn (tới giờ).

Thực ra nó giống như một nơi không gì cả.

Thủ Thiêm là nơi dạy cho tôi quá nhiều điều về thành phố này. Nơi đây ngập nước mỗi đợt triều cường lên, ngập sâu mút mùa, xe máy đi lúc đó có khi nước ọc quả ca bô xe, rồi dắt bộ cả đám lếch thếch trên đường ngày mưa. Và cũng trong con nước lụp ngụp ấy, mấy ông già, cậu trai, có bữa cả một cặp đôi tung tăng xách cần ra đường… câu cá. Họ cười đùa, họ cầm cái xô đựng cá, vui đùa rồi ra về. Có cả những người câu cá nghiêm túc, là đi kiếm ăn thật, ra gần bờ sông xổ mẻ lưới xong là về. Cứ vậy, thiên hạ nào phóng ô tô nước bắn tứ tung thì cứ phóng, ai rảnh hơi nàn rỗi câu cá thì cứ câu. Vui vậy.
20140225-213238.jpg

Có những buổi chiều đi bộ ra phà cũ, tôi thấy Sài Gòn lộng lẫy như em gái trẻ mình đầy trang sức đắt tiền, long lanh phủ nắng lên mặt sông, xa hoa khi đèn khách sạn bung nở từ bờ phồn hoa quận 1 qua, rồi cứ đà đó mà phóng vút vào đêm tối, đắm đuối như thiêu thân, hoang dại như một cơn hứng tình lộng lẫy. Đâu đó trên tầng thượng Majestic chắc mấy em gái Phillippines hát dở cũng đã bắt đầu rơi vào cơn men của bar rượu trước mấy khách Tây già rướm lệ khi nghe tiếng hát nhại nhóm Modern Talking zui nhộn mấy chục năm trước. Đó là bên kia bờ, là gò bồng đảo rờ rỡ của Sài Gòn.

Còn Thủ Thiêm vẫn đang nín thở trong buổi chiều sụp mí mắt. Những người đứng sát bờ sông từ Thủ Thiêm thường ra tìm chỗ thoáng mát, hoặc đang cố hiểu thành phố này theo một cách khác, từ vết thương lở lói rặt bóng những ngôi nhà đã tan tành xác pháo, đã mang tên họ kẻ tái định cư, đã rời dòng sông đi về một miền nào chẳng rõ. Chốn ấy, chỉ còn là một dấu hỏi lạ lùng, hoang vắng đầy ý định nghiền ngẫm.

Tôi thấy vị sư chùa già đứng rất lâu dưới cổng chùa, nhìn mãi sợi dây điện đang cắt ngang toà Bitexco trước mặt. Một anh chàng say rượu ngủ khì giữa đường rồi khật khưỡng đứng dậy kéo áo xống mà tiếp tục về nhà. Một cô gái trẻ đang đứng nhìn như bị thôi miên trước bầy dê mà ai đó vừa thả giữa con đường, như thể vừa từ một thế giới nào tới. Có ba mẹ con ăn xin mà tôi từng gặp nhiều lần từ đây đi ra,đứa bé tung tăng vô tư lự. Bà mẹ ẵm theo thằng em vừa đi vừa nựng nịu cho nó ăn quà. Lem luốc. Đen đúa. Mà sao thấy họ như trút bỏ hết cuộc ăn xin bận rộn ngoài kia để có một phút thư giãn, an ổn cùng nhau.

Bên sông, Thủ Thiêm có một nhà thờ nhỏ nằm cuối con đường cũ (chắc trước đây tràn ngập mái nhà). Giờ nhà thờ một mình một bóng giữa cánh đồng tối đen. Noel năm ngoái, khi tôi đi dạo quanh nhà dòng trong đêm lễ, nhìn mái nhà nhọn thẳng thớm lên trời với các ô cửa nhỏ màu xanh phảng ra ánh đèn tuýp trắng trong đêm lễ, tôi đã tưởng mình lạc vào vùng đất của một câu chuyện hay chiếu mùa cuối năm, với ngôi làng nhỏ ít bóng người, tiếng thánh ca ngập tràn và bóng dáng những nữ tu già chậm rãi đi bộ qua khung cửa nhà thờ sáng đèn.

Hôm ấy một nữ tu đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của họ, gói gọn trong cõi nhà dòng, ra đời phục vụ rồi lại quay về khi tuổi già đến. Sau lưng nhà dòng cũng là nơi yên nghỉ của những nữ tu đã già và về bên Chúa. Và nhà thờ này đã nằm bên bờ sông hơn trăm năm nay rồi, vẫn thanh lịch, nhã nhặn cà hiền hoà. Đứng từ sân nhà thờ nhìn ra sông, những tấm bảng quảng cáo “sinh từ một đến hai con” khổng lồ cắt xẻ lên bầu trời như những bàn tay quái vật đồ sộ, bấu vào mảng tối om bên này, nơi ánh đèn xa hoa không lan tới kịp.

Buổi chiều ở Thủ Thiêm giống một cái hang động của những người đi trốn, phải trốn vào thật sâu, lướt qua những lùm cỏ hoang, có con đường đi qua không một bóng người, chỉ rặt xà bần, nền nhà, có cả xác búp bê cũ nằm chỏng chơ trong nụ cười không mỏi mệt. Người dọn đi hết, rác trên đường cũng bạc màu theo. Vỏ kẹo bánh, nước ngọt cứ như từ kiếp nào vứt lại.

Khu nhà tôi ở hầu hết là dân tái định cư từ Thủ Thiêm lên. Từ bờ sông lên chung cư cũng có rất nhiều chuyện mắc cười. Ví dụ có anh trai kế bên nhà, mình xăm trổ đầy nhóc, ánh mắt gườm gườm, mấy cô gần đó bảo: nó là giang hồ, xưa nhà đầu hẻm, trấn luôn cái hẻm, dữ lắm.” Giờ lên tầng 3 chắc… hết hẻm rùi nên không còn trấn ở đâu. Có một cô bán bún bò bên hông chung cư, cứ đến chiều thì cô đẩy xe bún, 2 cậu con trai đẩy cái xe nhỏ có chở rau, thịt bò, bún xuống dưới bày bán, bán chừng 4 tiếng hết thì lại đẩy xe đi thang máy lên lầu 8. Nói chung mọi người khi rời khỏi bến phà, bờ sông, tuy có nhà mới khang trang hơn, nhưng lại loay hoay không biết mưu sinh thế nào. Rất nhiều ngừoi buôn thúng bán bưng đã quay trở lại lập… cái chợ ngay dưới chung cư, rồi người nơi khác cũng đổ về buôn bán theo. Mấy nữ tu hàng xóm của tôi cũng hay kể chuyện về những người bán dạo họ quen từ thuở sống gần bờ sông.

Cứ nhìn Thủ Thiêm thì thấy cuộc đời ngắn ngủi như một khúc gió, thổi một cái thành bãi bờ hoang, thành cuộc đời xa lìa, xáo trộn, cỏ cây phủ mấy hồi màt hành hoang dại.

Cái chung cư tôi ở cũng vậy, vì nó là tái định cư, nên những người xây ra nó không có nhiều tình yêu lắm với những kẻ bị giải toả, nhà xây gì mà ba hồi bong tróc, ba hồi vỡ nứt, ba hồi hỏng thang, rác đọng. Cứ như thể những kẻ đi xây nhà này không hề biết là họ đang xây nên mái ấm cuối cùng cho những người bơ vơ vậy…

Nhìn cho kĩ, mới thấy đứng ở bờ sông hoang dại bẩn thỉu mà còn gắn bó, hiền hoà hơn gấp nhiều lần cuộc đời trên những block nhà đầy ẩn ý kia…

Khải Đơn

Khi giáo dục không mang hàm ý của yêu thương

Sau khi cảnh quay thầy Trần Anh Tuấn tát liên tiếp em học sinh lớp 11 và em vung tay đấm lại thầy được post lên internet, nhà trường đã làm bản kiểm điểm và phê bình em học trò đã quay phim và khiến đoạn phim bị phát tán trên mạng.

Nhiều người giận dữ cho rằng sao em học trò ấy hỗn thế, dám dùng cả điện thoại quay phim thầy. Tệ hơn, em ấy dám vi phạm nội quy nhà trường và của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo.  Trái ngược lại, nhiều người thấy rằng hành vi thô bạo của thầy giáo lẫn học sinh cần phải được phơi bày và kỉ luật.

Những cái tát vung lên trong môi trường sư phạm, dù ở góc độ quá giận, giận ít, giận nhiều, tư thù hay vì công việc đều là những cái tát bất lực của người làm giáo dục. Nó chỉ biểu thị rằng, trong một môi trường mà lẽ ra ngôn ngữ, tri thức và tình yêu thương phải được đặt lên hàng đầu,đã bị xếp xuống thứ yếu và thay bằng một điều khác, gọi tên là vũ lực.

Thầy xài vũ lực. Trò – tương tự – cũng xài vũ lực. Cái vũ lực ấy sẽ đi đến đâu? – Như nhiều người bi quan bảo rằng, 2 đứa đánh thầy coi như bị kỉ luật, có “số đen” trong học bạ, thầy đánh trò cũng bị kỉ luật, coi như đời giáo viên lem luốc, thêm đứa quay phim bị kỉ luật nữa, chuyện tốt lành chưa thấy đâu thì chuyện đau buồn là coi chừng có 3 đứa học trò có nguy cơ bị đe dọa đường học vấn thì sờ sờ trước mắt. Nhìn đi ngẫm lại, chuyện này đau lòng hệt như chuyện thầy giáo quay phim tiêu cực thi tốt nghiệp ở trường THPT Đồi Ngô (Bắc Giang): trò thì bị hủy kết quả, một đám thầy cô giáo bị kỉ luật, còn thầy giáo tố cáo thì điêu đứng với sự nghiệp dạy học của mình.

Sau cái thời của phong trào “Ba Không” trong giáo dục, dường như có một tâm lí chống tiêu cực rừng rực xuất hiện trong ngành giáo dục. Những người lớn quá có niềm tin vào việc phanh phui tiêu cực thì thảy ra trước mặt dư luận biết bao nhiêu hình ảnh, clip… mà họ cực nhọc quay được, hòng làm trong sạch cái công việc giáo dục mà họ yêu quý. Nhiều clip đau xót đến bẽ bàng, thầy cô giáo ném phao thi, học trò dửng dưng chép bài cho qua chuyện.

Rồi sau đó, các ban ngành, sở, phòng giáo dục cũng rừng rực không kém. Khi những đoạn clip tung lên mạng, lên báo, người ta sốt sắng họp hành, sốt sắng chống tiêu cực, sốt sắng phát biểu, và đặc biệt nhất là phải sốt sắng chỉ tên ra một kẻ vi phạm nào đó có chân dung, gương mặt rõ ràng để dư luận nhìn vào đó lắc đầu cảm thán và nguôi ngoai. Họ vội vã đuổi học những đứa học trò “nguy cơ”, vội vã “cho tự nguyện nghỉ việc” các ông thầy giáo có tâm lí moi ra điều xấu xa đâu đó, và vội vã truyền tai học trò những đe dọa để dằn mặt những đứa nào dám… noi gương. Thế nhưng, tất cả các hệ thống kỉ luật đó đều quên mất một điều, đó là MỤC ĐÍCH của kỉ luật là để nền giáo dục đàng hoàng hơn, người học và người dạy nghiêm túc hơn, công việc truyền đạt tri thức mang gương mặt CON NGƯỜI hơn. Kỉ luật không phải là một cuộc cắn xé hay tiêu diệt lẫn nhau, và vì thế, nó càng không nên thể hiện cái kết quả rực rỡ là đuổi dạy thầy cô giáo, đuổi học học trò, bêu gương dưới cờ…

Đó là các hành vi sỉ nhục và ném đá vào nhân cách cũng như niềm tin vào công lý của giáo dục. Những kỉ luật đó không khiến người thầy, đứa học trò quay clip tố cáo hạnh phúc hơn sau cuộc tranh chấp. Tệ hơn, nó cũng không làm những em học trò xấu hổ đôi chút vì điều sai của mình hay những thầy cô giáo tiêu cực thấy chạnh lòng vì việc mình làm đã sai. Trớ trêu nhất là đôi khi kỉ luật đã khiến những người thầy tố cáo chạnh lòng rơi nước mắt vì mình đã… làm đúng.

Bởi vì, sau rốt, vượt qua tất cả những cái tát, những video clip tố cáo, những đoạn phim quay lén lút vội vàng trong lớp học, có lẽ những người tố cáo + nạn nhân cũng chỉ là những người bị sa đà vào được mất và bon chen của những lớp học ngột ngạt và thiếu hợp lí của nền giáo dục này. Ban đầu, cả thầy và trò đều đến trường vì hai chữ “trồng người”. Kẻ ước có được tri thức, người muốn truyền đạt tri thức, chắc không ai muốn một ngày mình sẽ mang bảng tên “Người tố cáo”, hay “người bị tố cáo” cả.

Vậy thì lẽ ra, trong những tình huống tranh giành ấy, phòng giáo dục, trường, hiệu trưởng phải là người tỉnh táo hơn bao giờ hết, để nhìn nhận cái mục đích tối thượng là “trồng người” của tất cả những thầy trò đã trót rơi vào cơn giận dữ tranh chấp chứ. Đàng này, người ta thấy những phòng giáo dục tìm cách đuổi giáo viên khỏi ngành, những ngôi trường tẩy chay thầy giáo quay phim, những hiệu trưởng kiểm điểm và dằn mặt em học trò trót quay clip. Ngành giáo dục – đại diện ở đây là những nhà quản lí giáo dục – đã không nhìn nhận các cuộc xô xát trên bục giảng như một vết thương cần chăm sóc mà đối xử với nó như cái mụn bọc cần cắt đi, nhổ ra hoặc lấy băng dính ra dán chặt vào không cho ai thấy.

Nếu cứ tiếp tục nhìn nhận học sinh của mình (những đứa trẻ 9x trang bị đầy đủ máy ghi âm và camera, smartphone) là những đứa trẻ “đáo để hỗn xược” thì những thầy giáo không bao giờ có thể bịt miệng được chúng, và chúng sẽ công khai chống lại điều chúng cho là không hợp lí.

Nếu cứ tiếp tục nhìn nhận những tố cáo, xô xát trong học đường là những cái mụn cần nhổ đi, người làm giáo dục sẽ không thể nào đi xa hơn cái đích… phòng chống bại lộ tiêu cực thay vì coi giáo dục tri thức và tình thương là mục đích tối hậu.

Hãy hỏi những đứa bé học trò đã giơ smartphone lên quay phim, liệu chúng có “bản năng” mà quay lén nếu như trước mặt chúng là hình ảnh người thầy răn dạy bạn chúng bằng cách thức thông thường như la mắng chút đỉnh hay khẻ thước vào tay – với tình thương thật sự của người thầy – hay không?

Nếu giáo dục không mang gương mặt của tình thương, những đứa trẻ sẽ không đáp lại tri thức bằng tình thương…. Không thể nào…

Khải Đơn

 Đã xài trên TN: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140223/khi-giao-duc-khong-mang-ham-y-cua-yeu-thuong.aspx

“Người trong bóng tối” (Paul Auster): Những giấc ngủ đào bới cái chết

Nếu bạn thích phim ảnh và thích đọc review phim thì “Người trong bóng tối” của Paul Auster là một quyển vừa vặn để bạn đọc. Theo bản in của Phương Nam Book thì 220 trang, mỏng tanh, nhưng đây là tiểu thuyết nha, không phải sách review phim đâu :D

paul auster Quyển truyện này có nhiều tuyến, giống hệt như khi mình xem một bộ phim với nhiều dòng phân cảnh chạy song song vậy. Ở lớp 1, có một gã tên Owen Brick – đang bò lên từ một cái hố – thấy New York tiêu đời rồi và hắn là cảm tử quân – phải đi giết một ông trùm nào đó. Ở lớp 2, một nhà văn già tên August Brill đang ở cùng con gái và cháu gái, xem phim tối ngày, tới đêm thì lại nghĩ đến người vợ vừa mất vì ung thư. Ở lớp 3, đứa cháu gái của Brill – tên là Katya, cũng đang xem phim, để tìm cách không nhắc lại câu chuyện về người bạn trai mình vừa chết trận ở Iraq.

Câu chuyện diễn ra trong đầu 3 người này, thỉnh thoảng cũng lòi ra vài hành động có vẻ “ghê gớm” động tay động chân chút ít, nhưng không có gì đáng kể  – ngoại trừ anh chàng Owen Brick cứ phải chạy tới chạy lui trốn vì không muốn trở thành cảm tử quân đi giết ông trùm (vốn là người hắn chẳng quen biết và chẳng tìm ra lí do gì để giết ông). Nếu không để ý, bạn có thể lạc mất trong mạch truyện.

Còn lại, cả quyển sách chỉ là những đêm mơ màng mà ông August Brill suy tưởng về cái chết, về kí ức với vợ ông, về việc làm sao mà nói chuyện với con gái, cháu gái – sau những chông chênh đổ vỡ vì cái chết.

Cũng có những phần tuyệt đỉnh về điện ảnh, khi cô gái Katya tranh luận với ông ngoại về những bộ phim họ xem chung. Những đoạn ấy có thể là đỉnh cao của nghệ thuật review phim ảnh. Tôi thực sự si mê khi xem những đoạn ấy, nên trích ra ở đây cho bạn đọc cùng một đoạn:

“Đêm nay cháu mới thấy được điều ấy. Nhưng có lẽ cháu đang phát hiện ra cái gì đó thật, vì cháu thấy những ví dụ của nó ở cả ba bộ phim. Ông có nhớ mấy cái đĩa ăn trong phim Ảo tưởng lớn lao không?

Mấy cái đĩa ư?

Ngay trước lúc hết phim ấy mà ông. Gabin nói với người đàn bà Đức rằng anh ta yêu bà ấy, rằng anh sẽ trở lại tìm hai mẹ con bà khi chiến tranh kết thúc, nhưng tụi lính đang đến gần, và anh ta và Dalio phải cố vượt biên giới sang Thụy Sỹ trước khi quá muộn. Bốn người bọn họ ngồi ăn bữa cuối cùng với nhau, rồi đến lúc họ phải chia tay. Tất cả thật cảm động, tất nhiên rồi. Gabin và người đàn bà đứng ở lối cửa, có thể họ sẽ không bao giờ gặp nhau nữa, nước mắt của người đàn bà, rồi cảnh hai người đàn ông mất dạng trong đêm tối. Sau đó Renoir cắt ngay vào cảnh Gabin và Dalio đang chạy trong rừng, và cháu cuộc tiền với ông là tất cả các đạo diễn khác trên thế giới sẽ bám cái cảnh ấy cho đến hết phim. Nhưng Renoir thì không. Ông ta là thiên tài – cháu nói thiên tài có nghĩa là ông ta có sự thấu hiểu, có lòng cảm thông sâu sắc – nên đã trở lại cảnh người đàn bà và đứa con gái còn nhỏ, góa phụ trẻ tuổi đã mất chồng trong cuộc chiến điên rồ nọ, và bà ấy đã làm gì? Bà ấy quay vào trong nhà, đối mặt với cái bàn ăn và đống đĩa chưa dọn dẹp còn ở nguyên đó. Hai người đàn ông đã đi rồi, và vì họ đi rồi, những cái đĩa ấy liền trở thành dấu hiệu cho sự vắng mặt của họ, nỗi đau khổ của phụ nữ khi đàn ông phải đi lính đánh nhau, và rồi không nói một lời, bà ấy nhặt nhạnh chỗ đĩa ấy để dọn bàn, lần lượt từng cái một. Cảnh ấy kéo dài bao lâu? Mười giây? Mười lăm giây? Chỉ thế thôi, nhưng nó làm ta ngạt thở, có phải không ạ? Nó làm ta thật sự não hết cả ruột.”

Đó là đoạn cháu gái Katya bình về bộ phim “Grand Illusion” (Ảo tưởng lớn lao), một đoạn bình phim đúng điệu nhà nghề, có lẽ vì Paul Auster cũng là một nhà văn cũng kiếm sống bằng nghề bình phim nên… không giấu nghề được. Trong truyện còn có thêm 3 đoạn review 3 phim khác cũng rất hấp dẫn.

Trong đoạn bình ấy, người ta cũng có thể cảm thấy Katya có một cái gì đó dường như là quá già, quá nghĩ ngợi, cứ như thể cô bé đang ngắm nghía các nỗi buồn chia ly hoặc ngôn ngữ câm lặng của nỗi buồn. Nhưng với một đứa trẻ nằm trong bóng tối với một ông già, liệu có nỗi buồn nào không thể già nua thêm?

Giữa cuộc chạy trốn đầy kịch tính kiểu phim hành động của Owen Brick trong New York tan hoang vì hủy diệt (bạn sẽ khám phá ra vì sao có cái phim hành động kì quái này trong truyện khi đọc), là những đêm August không ngủ được và nằm tán dóc với cháu. Cháu gái mới lớn đầy ắp các câu hỏi tò mò và trẻ trung:

“Ông vẫn chung thủy chứ?

Hoàn toàn chung thủy.

Thế lúc nào thì ông bắt đầu trượt dốc?

Có lẽ nói là chệch hướng thì đúng với hoàn cảnh của ông hơn.

Sa ngã vậy. Hàm ý tinh thần của hai chữ này có vẻ thích hợp với ông.

….

Ông có cảm thấy tội lỗi không?

.. Ông ơi, ông đừng tự giận mình nhiều quá thế. Bà đã đón nhận ông trở lại, đúng không nào?”

Cứ thế, lần lữa từng đêm mất ngủ, ông kể cho Katya nghe về tình yêu của ông dành cho bà, rồi khi bà bị ung thư và mất… Giống như những đêm khuya dưới ánh lửa, người truyền kí ức kể cho lớp trẻ nghe về các trải nghiệm của đời mình, August đã moi những tháng năm, kỉ niệm, cung bậc cảm xúc của mình ra, mổ xẻ từng phần một để cháu gái ông ngắm nhìn. Cứ mỗi lần kể ra một vùng tối, ông giống như lấy một phần quá khứ của mình ra, ném vào đống lửa, để cháu thấy cuộc sống có thể rực rỡ và đau khổ theo kiểu gì.

Quyển sách là hằng hà sa số những đoạn kể mạch lạc, xuyên qua vùng tâm trí của ông ngoại để cuối cùng đâm thủng lớp sương mù của cháu – nơi người bạn trai đã chết tại Iraq – đang xói mòn trái tim cô bé: “Đấy. Ông hiểu rồi chứ? Nếu cháu không xem nó thì mọi việc đã khác. Người ta ra trận, và đôi khi người ta chết. Mình nhận một cái điện tín hoặc một cú phôn, có ai đó bảo mình rằng con trai hoặc chồng hoặc người yêu cũ của mình đã chết trận. Nhưng mình không thấy chuyện ấy đã diễn ra như thế nào. Mình mường tượng trong đầu, nhưng không biết sự thật. Thậm chí nếu có ai đã chứng kiến rồi về kể lại, thì mình vẫn chỉ có những lời nói ấy thôi, những từ ngữ mơ hồ, muốn hiểu thế nào cũng được. Còn đây thì mình lại nhìn thấy hẳn hoi. Nhìn thấy họ đã giết chết anh ấy như thế nào. Nếu không có những hình ảnh khác làm khuất lấp cái đoạn video ấy đi, cháu sẽ chỉ còn nhìn thấy nó. Cháu không thể xóa bỏ nó được.”  - Chàng trai ấy đã chết thế nào để người yêu phải chôn vùi mình trong bóng đêm mà không gượng dậy nổi đến vậy?

Làm sao để August “phá băng” được sự phong kín và cứng đầu của một đứa trẻ cách ông ba thế hệ? Làm sao để cháu bé sống tiếp một cuộc đời đã bị đâm thủng vì cuộc chiến ở xa nó mấy chục nghìn km? Làm sao Owen Brick có thể vác súng đi và giết một “nhà độc tài” mà anh ta chẳng hề quen biết – và cứu lấy New York? Cứ thế, các lớp nhân vật cứ phải dằn vặt mình, ngắm nghía cái chết gần sau gáy mình hay ở trước mắt mình, đào bới nó lên, kiểu như chết để cho vợ mình sống thì sao? Người thân mình chết mà mình thấy thì sao? – Cứ thế, các nhân vật phải rị mọ, mòn mỏi nhìn ngắm nỗi đau khổ tận cùng của mình trong đêm tối, giữa ngày tháng.

Có lúc trong bóng tối, August đã thốt lên: Giá như tôi chết đi trước khi thức giấc. Mọi thứ qua nhanh đến thế. Hôm qua mới là đứa trẻ, hôm nay đã thành ông già, và từ đó cho đến nay tim đã đập bao nhiêu nhịp, thở đã được bao nhiêu hơi, bao nhiêu lời đã nói đã nghe? Có ai đó không, hãy chạm vào tôi đi. Hãy sờ lên mặt tôi và nói với tôi này…”

Hệt như một bộ phim, hệt như những khung hình nghẹt thở, yên ắng, rầm rập… mình sẽ nằm yên trong bóng tối và nghe lời thầm thì của August Brill. Ông ấy thở một cách khó nhọc trong kí ức về nhiều cái chết và niềm dang dở, rồi khổ sở lê mình đứng dậy bước ra khỏi bóng tối… vì ông phải làm gương cho cháu, phải vì một đứa trẻ mà quẫy đạp mạnh mẽ hơn.

Phải dũng cảm hơn rất nhiều.

Khải Đơn

Paul Auster 2

Paul Auster là nhà văn Mỹ gốc Ba Lan. Sách của ông dịch ở Việt Nam “Nhạc đời may rủi”, “Trần trụi với văn chương”, “Người trong bóng tối”, “Moon Palace”.

Paul Auter đã xuất bản 13 tập tiểu thuyết, 5 cuốn hồi ký và tự truyện, 5 kịch bản phim (ông cũng tham gia cả diễn xuất và đạo diễn), 5 dịch phẩm văn học. Ông đã nhận được 7 giải thưởng văn học danh giá của Mỹ và quốc tế, trong đó có giải Prince Asturia 2006 – giải đã từng được trao cho các văn hào thế giới Gunter Grass, Arthur Miller và MarioVargas Llosa.

Ebook:

Trần trụi với văn chương: http://tve-4u.org/showthread.php?t=3897

Những bóng ma: http://tve-4u.org/showthread.php?t=10497

Moon Palace: http://tve-4u.org/showthread.php?t=1292

Rất tiếc hem có ebook “Người trong bóng tối” haha :)) Em đọc bằng sách giấy.

=================

CÀ PHÊ CUỐI TUẦN:

 uw52b8ab3b

Em có bán cà phê Du Mục ngon thơm và sạch sẽ, mời bạn chọn mua và em sẽ phục vụ tận nơi… hehe:

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.209137829293589.1073741828.197962500411122&type=1

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 711 other followers

%d bloggers like this: